Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giáo dục tính tự lập cơ bản trong cuộcsống cho trẻ lớp 3-4 tuổi lớp C1 trong trường Mầm non Song Mai

docx 14 trang huynhson 31/05/2026 30
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giáo dục tính tự lập cơ bản trong cuộcsống cho trẻ lớp 3-4 tuổi lớp C1 trong trường Mầm non Song Mai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giáo dục tính tự lập cơ bản trong cuộcsống cho trẻ lớp 3-4 tuổi lớp C1 trong trường Mầm non Song Mai

Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp giáo dục tính tự lập cơ bản trong cuộcsống cho trẻ lớp 3-4 tuổi lớp C1 trong trường Mầm non Song Mai
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP BẮC GIANG
 TRƯỜNG MẦM NON SONG MAI
 ******
 BÁO CÁO BIỆN PHÁP 
THAM DỰ HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TỈNH 
 CHU KỲ 2020-2024
Tên biện pháp: Biện pháp giáo dục tính tự lập cơ bản trong cuộcsống 
 cho trẻ lớp 3-4 tuổi lớp C1 trong trường mầm non Song Mai
 Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền Trang
 Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
 Đối tượng giảng dạy: Mẫu giáo
 Chức vụ: Giáo viên - Tổ trưởng chuyên môn
 Bắc Giang, ngày 20 tháng 04 năm 2022 2
 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
 Thế nào được gọi là tự lập: Tự lập là tự làm lấy, tự giải quyết công việc của 
mình, tự lo liệu, tạo dựng cho cuộc sống của mình, không trông chờ dựa dẫm, phụ 
thuộc. Nhưng đối với độ tuổi trẻ mầm non đặc biệt là độ tuổi 3-4 tuổi tự lập chính là 
biết tự làm một số kỹ năng cơ bản phục vụ bản thân mình và bước đầu biết quan tâm 
chia sẻ giúp đỡ người khác.
 Có một câu nói rất hay về việc nuôi dạy con cái “Có nhiều cách làm hư con. 
Làm hư tinh thần bằng cách chiều chuộng quá mức; làm hư ý chí bằng cách chiều 
chuộng theo mọi ý thích, và làm hư trái tim nó bằng sự lo lắng phục vụ quá đáng”. 
Nhưng ngày nay, tình trạng trẻ thụ động không biết ứng phó với nguy cấp, không biết 
cách tự bảo vệ bản thân trước những nguy hiểm, luôn luôn ỷ lại vào người lớn, tìm sự 
giúp đỡ, chưa có nhiều kỹ năng trong giao tiếp ứng xử, trẻ chưa biết làm một số công 
việc tự phục vụ bản thân. Khi đi học trẻ vẫn còn nhõng nhẽo bắt bố mẹ, ông bà bế 
đến tận cửa lớp. Khi ở lớp, còn nhiều trẻ còn chưa tự giác làm những công việc tự 
phục vụ bản thân như: lấy đồ và cất đồ dùng cá nhân, vệ sinh cá nhân trẻ, chưa tự xúc 
ăn cơm còn chờ cô xúc cơm hộ trẻ, Chúng ta có thể thấy trẻ có thể sẽ bắt đầu làm 
những việc cho riêng mình vào một thời điểm nào đó sau khi trẻ được 1 tuổi.Nhưng 
cha mẹ luôn nghĩ con mình còn quá nhỏ cần bao bọc, nuông chiều, làm hộ trẻ, khiến 
trẻ ỷ lại, ích kỷ không quan tâm đến người khác và tính độc lập bản thân trong cuộc 
sống còn rất nhiều hạn chế lâu dần sẽ mất đi những kỹ năng cơ bản.Trẻ em có tính tự 
lập sớm sẽ đạt được vô vàn lợi ích. Trẻ tự tin vào khả năng của bản thân, vui vẻ và 
hãnh diện vì bản thân làm được những điều như người lớn. Cha mẹ không cần quá 
nhiều thời gian chăm sóc và nâng niu trẻ. Ngoài những điều đó, trẻ có kỹ năng sống 
này còn có khả năng thích nghi tuyệt vời với mọi hoàn cảnh. Xuất phát từ những trăn 
trở trên nên tôi đã chọn biện pháp “Biện pháp giáo dục tính tự lập cơ bản trong 
cuộc sống cho trẻ lớp 3-4 tuổi lớp C1 trong trường mầm non Song Mai”
 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
 1. Thực trạng trong việc giáo dục tính tự lập cơ bản trong cuộc sống cho trẻ 
mẫu giáo 3-4 tuổi 3
 1.1. Ưu điểm: 
 - Bản thân là giáo viên có trình độ trên chuẩn, là giáo viên có thâm niên. Có 
niềm đam mê với nghề, luôn yêu thương trẻ.
 - Trẻ ngoan ngoãn, đồng đều về độ tuổi
 - Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện tốt nhất để giáo viên hoàn thành 
tốt các nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ.
 - Đa số phụ huynh của lớp nhiệt tình, quan tâm chu đáo tới con em và thường 
xuyên trao đổi với giáo viên về tình hình của con em mình ở lớp cũng như ở nhà. 
 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
 Bên cạnh những thuận lợi trên chúng ta còn gặp không ít khó khăn đó là:
 1.2.1. Giáo viên
 - Giáo viên nhiều khi bị mất kiên nhẫn trong việc giáo dục tính tự lập cho trẻ: Như 
dạy trẻ cầm thìa xúc ăn hay dạy trẻ đi giày dép 
 - Nguyên nhân: Đôi khi giáo viên thường áp dụng chung cách giáo dục cho tất cả 
học sinh mà không tìm hiểu tính cách sự tiếp thu của từng trẻ khiến cho việc giáo dục 
chưa đạt hiệu quả cao.
 1.2.2. Trẻ em
 - Tuy trẻ cùng độ tuổi nhưng khả năng tiếp thu của trẻ không đồng đều dẫn đến 
việc giáo dục cho trẻ đạt kết quả chưa cao.
 + 36% trẻ chưa biết tự lấy nước uống
 + 43% trẻ chưa biết tự cầm thìa xúc ăn
 + 33% trẻ chưa biết cởi và tự mặc quần áo
 + 30% trẻ chưa biết tự đi giày dép
 + 10% trẻ tự làm mà không cần giáo viên nhắc nhở
 - Nguyên nhân: Đa số trẻ sống trong sự bao bọc, nuông chiều, luôn được ông bà 
bố mẹ làm hộ mọi việc khiến trẻ ỷ lại, ích kỷ, không quan tâm đến người khác và các 
kỹ năng trong cuộc sống còn hạn chế.
 1.2.3. Phụ huynh
 - Các bậc cha mẹ thường luôn nóng vội trong việc dạy con, chưa biết cách giáo 
dục con phù hợp. 4
 - Nguyên nhân: Đa số phụ huynh là thuần nông và đi làm công nhân nên hầu hết 
giao con cho ông bà chăm sóc, dạy dỗ.
 * Bảng khảo sát đầu năm học
 Số lượng Trẻ chưa đạt 
 STT Nội dung khảo sát Trẻ đạt
 trẻ được
 1 Tự cầm ca để lấy nước 30 11=36,5% 19=73,5%
 2 Tự xúc cơm ăn 30 13=43,3% 17=56,7%
 3 Tự cởi, mặc quần áo 30 10=33,3% 20=66,7%
 4 Tự mang giầy dép 30 9=30% 21=70%
 Trẻ mạnh dạn tự tin trẻ hoàn thành 
 5 công việc không cần giáo viên nhắc 30 3=10% 27=90%
 nhở
 2. Biện pháp thực hiện
 2.1. Biện pháp 1: Xác định rõ những tính tự lập cơ bản mà giáo viên cần dạy trẻ.
 2.1.1 Nội dung biện pháp:
 Giáo dục cho trẻ tính tự lập là giúp trẻ có những kỹ năng đơn giản như: biết tự 
cất đồ dùng cá nhân khi đến lớp, tự biết lấy và cất đồ dùng đồ chơi khi muốn chơi 
hoặc không chơi, tự rửa tay trước và sau khi ăn cơm, kê bàn ghế chuẩn bị bàn ăn, 
chuẩn bị khăn lau, tự xúc cơm ăn, biết giữ gìn vệ sinh trong khi ăn (không nói chuyện 
trong khi ăn, ăn không rơi vãi, không vứt bỏ thức ăn) khi ăn xong biết cất ghế, để bát 
thìa đúng quy định, biết vệ sinh cá nhân,... 
 2.1.2. Cách thức, quá trình thực hiện biện pháp
 Khi trẻ đến lớp mẫu giáo thì các trẻ vẫn đang học cách tự chăm sóc mình vì vậy 
tôi luôn theo dõi sát sao từng hoạt động của trẻ để kịp thời khuyến khích và chỉ dạy. 
Bất cứ lúc nào trẻ thử làm một việc gì, cho dù trẻ có làm được hay không, giáo viên 
cũng nên biểu dương sự cố gắng của trẻ và mà khích lệ việc trẻ làm. Nếu trẻ làm chưa 
đúng giáo viên không nên vội giúp trẻ mà nên là người hướng dẫn trẻ tự làm và cho 
trẻ có đủ thời gian để tự mình làm, việc nhanh hay chậm tùy thuộc vào mỗi đứa trẻ. 5
Vì thế giáo viên đừng tạo áp lực với trẻ mà hãy cư xử thật khéo léo và tạo cho tẻ tính 
tự lập bản thân ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi thời điểm, hình thành cả hành động và 
thói quen trẻ trong sinh hoạt.
 Dạy cho trẻ cách mặc áo khoác
 Tạo hứng thú trong bữa ăn để trẻ tự xúc ăn
 - Rèn trẻ kỹ năng hợp tác: cô tổ chức và khuyến khích trẻ cùng tham gia các 
công việc ở lớp theo từng nhóm hoặc theo nhóm đôi: Hai bạn hoặc bốn bạn cùng 
khiêng một bàn để kê bàn ăn, thu dọn bàn ăn, cùng bạn chuẩn bị giường ngủ trưa
giúp cô... Việc hợp tác trong công việc này, giúp hình thành ở trẻ tinh thần tập thể, 
đoàn kết với nhau để thực hiện tốt công việc. 6
 Các bạn cùng kê bàn chuẩn bị cho giờ ăn và giường ngủ
 - Tạo điều kiện để trẻ thể hiện bản thân: Một trong những kỹ năng đầu tiên mà 
tôi luôn chú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ tự thể 
hiện bản thân, luôn luôn tự tin trong mọi tình huống và ở mọi lúc mọi nơi. Khi trẻ 
thấy rằng mình có thể mình có thể tự làm việc nào đó, trẻ sẽ trở nên tin tưởng vào khả 
năng của mình hơn, sẽ cố gắng vượt mọi khó khăn ở mức độ cao nhất có thể hoàn 
thành nhiệm vụ mà không cần sự can thiệp của người lớn.
 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp:
 - Qua quá trình thực hiện biện pháp tôi đã theo dõi sát sao từng hoạt động của 
trẻ và kịp thời động viên khích lệ những lúc trẻ gặp khó khăn. Chính vì vậy sau khi 
sử dụng biện pháp trẻ đã tự giác trong ăn uống. Trẻ tích cực tham gia hoạt động 
nhóm, trẻ tự tin thực hiện được những công việc phục vụ bản thân mà không cần phải 
nhờ đến người lớn.
 2.2. Biện pháp 2: Giúp trẻ phát triển tính tự lập thông qua việc tổ chức lồng 
ghép trong các hoạt động và ở mọi lúc mọi nơi.
 2.2.1. Nội dung biện pháp
 - Xuất phát từ đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non là rất thích nghe kể chuyện. Nội 
dung các câu chuyện thường để lại ấn tượng cho trẻ rất lâu và khó phai mờ. Chính vì 
vậy, tôi thường kể chuyện cho trẻ nghe và thông qua câu chuyện giúp trẻ rèn kỹ năng 
sống nhất là kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Giúp trẻ tiếp nhận một cách hứng thú, tự 
nguyện.
 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp 7
 Trong giờ Văn học: Cô kể cho trẻ nghe câu chuyện “Gấu con bị đau răng” tôi
nhấn mạnh lý do Gấu con bị đau răng và để trẻ biết muốn răng không bị sâu không bị 
đau thì trẻ phải biết tự đánh răng sau khi ngủ dạy vào buổi sáng và buổi tối trước khi 
đi ngủ.
 Trẻ biết tự đánh răng ở nhà
 - Ngoài ra, vào những dịp lễ tết tôi thường tổ chức cho trẻ tham gia những 
buổi trải nghiệm như: Gói bánh trưng, nặn bánh trôi. Trẻ được tự mình thực hiện 
những công việc tưởng chừng chỉ có người lớn mới làm được. Nhưng trẻ lại rất 
hứng thú tham gia và tự mình trải nghiệm những công việc của người lớn. Trẻ 
được tự mình làm và thưởng thức những thành quả mình làm ra. Mặc dù sản phẩm 
làm ra của trẻ chưa đẹp, chưa tròn trịa nhưng giúp trẻ có rất nhiều kỹ năng trong 
các công việc hàng ngày.
 Cô hướng dẫn trẻ gói bánh trưng 8
 Trẻ cùng bạn nặn bánh trôi
 - Giáo dục trẻ cách phòng chống dịch bệnh thông qua giáo dục kỹ năng tự phục 
cho trẻ như: Dạy trẻ đeo khẩu trang đúng cách, rửa tay sát khuẩn trước khi vào lớp, 
rửa tay bằng xà phòng dưới khi ăn cơm hoặc sau khi đi vệ sinh. 
 Ví dụ: Cô cho trẻ đi rửa tay trước giờ ăn. 
 + Mục đích: Trẻ biết giữ gìn vệ sinh đôi bàn tay, biết khi ăn phải rửa tay sạch sẽ 
để đảm bảo vệ sinh, phòng chống dịch bệnh. Trẻ biết tự rửa tay.
 + Chuẩn bị: Bồn rửa tay, xà phòng, khăn lau.
 + Tiến hành: Cô làm mẫu các bước rửa tay cho trẻ quan sát. Cô cho lần lượt trẻ 
lên tự mình rửa tay theo sự hướng dẫn của cô. Khi rửa tay xong trẻ biết lau khô tay 
trước khi vào bàn ngồi ăn cơm.
 Trẻ sát khuẩn tay trước khi vào lớp và rửa tay xà phòng trước bữa ăn 9
 Dạy trẻ kỹ năng đeo khẩu trang đúng cách
 - Giáo dục các kỹ năng tự lập cho trẻ trong giờ đón trẻ: Cô nhắc nhở trẻ tự “Cất 
đồ đùng cá nhân và xếp dép đúng nơi quy định” để trẻ được làm đi làm lại tạo cho trẻ 
thói quen khi đến lớp. Giúp trẻ biết tự mình sắp xếp những vật dụng cá nhân của mình 
một cách gọn gàng và ngăn nắp.
 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp:
 - Qua việc giáo dục nhẹ nhàng trong các hoạt động tại lớp mà tôi nhận thấy trẻ 
lớp tôi đã mạnh dạn và tự tin thực hiện công việc một cách tự nhắc không quá phụ 
thuộc vào sự nhắc nhở của giáo viên.
 Nội dung khảo sát Số Trước khi thực Sau khi thực 
 lượng hiện biện pháp hiện biện pháp
STT
 trẻ
 Số trẻ Tỷ lệ (%) Số trẻ Tỷ lệ (%)
 Trẻ mạnh dạn tự tin trẻ hoàn thành 30 3 10 28 93,3
 1 công việc không cần giáo viên 
 nhắc nhở
 2.3.Biện pháp 3: Giáo viên khuyến khích, tạo tình huống, cơ hội, để giáo dục 
cho trẻ tính tự lập.
 2.3.1. Nội dung biện pháp
 Khuyến khích, tạo tình hưống, cơ hội để giáo dục cho trẻ tính tự tập luôn là 
động lực để trẻ cố gắng trong mọi hoàn cảnh. Ngay từ khi trẻ còn nhỏ việc rèn tính tự 
lập bản thân cho trẻ nên bắt đầu từ đây, từ độ tuổi mầm non. Rèn tính tự lập bản thân 
giúp trẻ tự lập, tự tin, tích cực, sáng tạo trong cuộc sống. 10
 2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
 Tôi luôn tạo cơ hội để trẻ được tương tác với bạn bè, người lớn, được trải 
nghiệm thực hành và luyện tập thường xuyên ở trường cũng như ở gia đình thông qua 
các hoạt động phong phú, đa dạng như học tập, vui chơi, lao động,...
 Luôn tích cực đổi mới phương pháp dạy học nhằm khuyến khích sự chuyên cần 
tích cực của trẻ. Giáo viên phải biết khai thác phát huy tính tích cực của trẻ cũng như 
phát huy năng khiếu, khả năng sáng tạo ở mỗi trẻ trong các hoạt động. Cần phải giáo 
dục trẻ như thế nào để trẻ cảm thấy thoải mái trong mọi tình huống của cuộc sống.
 Bản thân tôi thường xuyên tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ một 
cách thích hợp tuân theo một số quan điểm: Giúp trẻ phát triển đồng đều các lĩnh vực: 
Thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm - xã hội và thẩm mỹ. Phát huy tính tích cực 
của trẻ, giúp trẻ hứng thú, chủ động khám phá tìm tòi, biết vận dụng vốn kiến thức kỹ 
năng vào việc giải quyết các tình huống khác nhau.
 Tôi luôn tạo tình huống để giúp trẻ có những mối liên kết mật thiết với những bạn 
khác trong lớp, trẻ biết đoàn kết với bạn, biết cư xử hòa đồng với các bạn trong lớp. 
Biết diễn đạt điều muốn nói cho bạn hiểu khi tham gia các hoạt động tập thể. Giúp trẻ 
luôn cảm thấy mạnh dạn, tự tin và sẵn sàng tham gia tích cực các hoạt động một cách 
hào hứng. Điều này liên quan tới việc đứa trẻ có cảm thấy thoải mái, tự tin hay không 
đối với mọi người xung quanh, cũng như việc mọi người xung quanh chấp nhận đứa 
trẻ đó như thế nào.
 Cô giáo mầm non- vai trò người mẹ hiền thứ hai của trẻ, tôi luôn theo dõi sát sao 
từng hoạt động của trẻ để kịp thời khuyến khích và chỉ dạy trẻ. Các bài học đều là 
những hành động đơn giản, nhưng với trẻ là những điều mới lạ và rất khác biệt, đồng 
thời không phải tốc độ thực hiện của trẻ nào cũng như nhau nên điều quan trọng là 
giáo viên cần khuyến khích trẻ. Bất cứ lúc nào trẻ làm thử việc gì, dù trẻ có làm được 
hay không, giáo viên cũng nên biểu dương sự cố gắng của trẻ và khuyên trẻ làm thử 
lại một lần nữa. Giáo viên không nên vội giúp trẻ mà điều cần thiết là hướng dẫn trẻ 
tự làm và cho trẻ có đủ thời gian để tự mình làm được những điều này, việc nhanh 
hay chậm tùy thuộc vào mỗi đứa trẻ. Vì thế giáo viên không nên tạo áp lực cho trẻ mà 
hãy cư xử thật khéo léo. 11
 2.3.3. Kết quả áp dụng biện pháp:
 - Trẻ có nhiều cơ hội để tự làm công việc của bản thân dưới sự động viên kích lệ 
của cô giáo.
 - Trẻ chơi hoà đồng và đoàn kết với bạn hơn, trẻ thích được tham gia các hoạt 
động tập thể và biết đỡ bạn khi bạn gặp khó khăn.
 - Trẻ đi học đều hơn, đạt tỷ lệ chuyên cần 90% trở lên và ít gặp khó khăn khi đến 
lớp, biết cách chia sẻ và giúp đỡ công việc với mọi người: sắp xếp bàn ăn, biết chia cơm 
cho các bạn... trong các giờ ăn, biết giúp cô gập chăn gập chiếu sau khi ngủ dạy.
 2.4. Biện pháp 4: Phối hợp với phụ huynh trong việc giáo dục tính tự lập 
cho trẻ.
 2.4.1. Nội dung biện pháp
 Để việc giáo dục tính tự lập cho trẻ đem lại hiệu quả cao thì công tác phối hợp 
với phụ huynh đóng một vai trò hết sức quan trọng. 
 2.4.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
 Qua những lúc đón trả trẻ, những buổi họp phụ huynh tôi trao đổi với phụ huynh 
về tầm quan trọng của việc giúp trẻ có được khi để trẻ tự lập. Trẻ có những tính tự lập 
tốt trước hết người lớn phải gương mẫu, yêu thương tôn trọng trẻ. Tạo mọi điều kiện 
tốt nhất cho trẻ được vui chơi, học tập. Cha mẹ có thể giúp trẻ phát triển tự lập bằng 
cách tạo cơ hội cho trẻ được thực hành nhiều, khuyến khích và luôn động viên trẻ làm 
những công việc vừa sức giúp cha mẹ như (nhặt rau, quét nhà, tự vệ sinh cá nhân) trẻ 
được làm quen với những đồ dùng, vật dụng khác nhau (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ 
uống). Sự sạch sẽ gọn gàng, một số thói quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn 
những bộ đồ dùng, vật dụng, thái độ ăn uống từ tốn, không vội vã, không khí cởi mở, 
thoải mái và đầm ấm, những cuộc trao đổi nhẹ nhàng dễ chịu, cung cấp cho trẻ những 
mẫu hành vi văn hóa, những hành vi đúng, đẹp, văn minh của chính cha mẹ và những 
người xung quanh trẻ. Tất cả những yếu tố trên sẽ giúp trẻ thói quen tốt để hình thành 
những tính tự lập bản thân cho trẻ sau này.
 Sự phối hợp chặt chẽ với phụ huynh luôn được tôi quan tâm và thực hiện có hiệu 
quả. Bằng việc liên hệ kịp thời với phụ huynh tôi luôn nắm tình hình của trẻ một cách 
rõ ràng. Trao đổi với phụ huynh những nội dung và biện pháp giáo dục kỹ năng cho 12
trẻ tự làm những công việc phục vụ bản thân tại nhà và cùng bàn bạc đưa ra cách giải 
quyết, tháo gỡ những khó khăn gặp phải qua các buổi họp phụ huynh hoặc trên nhóm 
zalo lớp.
 Trao đổi thông tin trao đổi giữa cô giáo lớp 3-4 tuổi C1 
 với phụ huynh trong giờ đón trẻ và họp phụ huynh
 2.4.3. Kết quả áp dụng biện pháp:
 - Cha mẹ luôn coi trọng trẻ và tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục cho 
trẻ ở nhà trường.
 - Các bậc cha mẹ đã có thói quen liên kết phối hợp chặt chẽ với cô giáo trong 
việc giáo dục trẻ, thường xuyên trao đổi về tình hình của trẻ qua zalo với cô giáo để 
nắm được tình hình.
 - Qua trao đổi với phụ huynh, nhiều phụ huynh cũng nhận thấy rằng có rất nhiều 
điều con mình có thể làm nhưng trước đó phụ huynh nghĩ con mình còn bé và luôn 
làm hộ trẻ. Giao tiếp giữa cha mẹ và con cái tốt hơn, đa số cha mẹ dịu dàng, ít quát 
mắng trẻ, thay đổi trong cách rèn kỹ năng cho trẻ, phân công việc cho trẻ, không còn 
chiều chuộng trẻ thái quá, không còn hình ảnh bố bế con, mẹ đi sau xách cặp cho con 
mà ngược lại là những hình ảnh trẻ tự đeo ba lô vào lớp, tự để đồ dùng của mình vào 
đúng quy định... 13
 PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP
 Bảng so sánh đối chiếu kết quả trước và sau khi thực hiện biện pháp là minh 
chứng hiệu quả của biện pháp tôi đã áp dụng trong báo cáo. Trong 5 nội dung thì tỷ lệ 
sau khi thực hiện biện pháp đều chiếm tỷ lệ trên 90%. Nội dung 1,2,3 trước khi áp 
dụng biện pháp chỉ chiếm tỷ lệ không quá 50% thì sau khi sử dụng biện pháp giáo 
dục trẻ đã thực hiện được chiếm tỷ lệ 100%. Cụ thể qua bảng số liệu sau.
 Nội dung khảo sát Số Trước khi thực Sau khi thực 
 lượng hiện biện pháp hiện biện pháp
STT
 trẻ Số trẻ Tỷ lệ (%) Số trẻ Tỷ lệ (%)
 1 Tự cầm ca để lấy nước 30 11 36,5 30 100
 2 Tự xúc cơm ăn 30 13 43,3 30 100
 3 Tự cởi, mặc quần áo 30 10 40 29 96,6
 4 Tự mang giầy dép 30 9 30 30 100
 Trẻ mạnh dạn tự tin trẻ hoàn 
 5 thành công việc không cần giáo 30 3 10 28 93,3
 viên nhắc nhở
 Trẻ biết tự lập khi ở nhà
 Trẻ biết giúp đỡ bố mẹ công việc vừa sức mình 14
 PHẦN D. CAM KẾT
 Giáo viên cm kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền; không sử dụng biện 
pháp đã được đề xuấtđể xét duyệt thành tích khen thưởng cá nhân trước đó; các biện 
pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về kết quả, sự tiến bộ của trẻ em trong 
bản báo cáo “ Biện pháp giáo dục tính tự lập cơ bản trong cuộc sống của trẻ lớp 3-4 
tuổi C1 trong trường mầm non Song Mai” là trung thực.
 Bắc Giang, ngày 20tháng 04 năm 2022
 GIÁO VIÊN
 Nguyễn Thị Huyền Trang
 PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG
 1. Đánh giá, nhận xét của tổ/nhóm chuyên môn
 ..
 . .
 TỔ/NHÓM TRƯỞNG CHUYÊN MÔN
 2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng
 ...
 . ...
 HIỆU TRƯỞNG
 Nguyễn Thị Mai Phương

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_bien_phap_giao_duc_tinh_tu_lap_co_ban.docx