Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp 4 – 5 tuổi B3 trường Mầm non Song Mai

docx 15 trang huynhson 31/05/2026 30
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp 4 – 5 tuổi B3 trường Mầm non Song Mai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp 4 – 5 tuổi B3 trường Mầm non Song Mai

Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp 4 – 5 tuổi B3 trường Mầm non Song Mai
 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP. BẮC GIANG 
 TRƯỜNG MẦM NON SONG MAI 
 *****
 BÁO CÁO BIỆN PHÁP 
 THAM DỰ HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TỈNH 
 CHU KỲ 2020-2024
Tên biện pháp:“Biện pháp rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 
 lớp 4 – 5 tuổi B3 trường mầm non Song Mai”
 Họ và tên: Nguyễn Thị Khánh Ly 
 Trình độ chuyên môn: Cao đẳng sư phạm
 Đối tượng giảng dạy: Mẫu giáo
 Chức vụ: Giáo viên
 Bắc Giang, ngày 20 tháng 04 năm 2022 2
 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
 Như chúng ta đã biết tự phục vụ là một kỹ năng quan trọng, thúc đẩy và 
giúp trẻ hoàn thiện mình một cách tốt nhất. Đây còn là cơ hội để trẻ nhanh 
chóng khôn lớn và trưởng thành trong cuộc sống.
 Giáo dục và rèn kỹ năng tự phục cho trẻ trong trường mầm non hiện nay là 
hoạt động được chú trọng trong mỗi nhà trường. Không có kỹ năng tự phục vụ 
sẽ dẫn đến trẻ lười biếng, khó khăn khi tham gia các hoạt động tập thể.
 Tuy nhiên việc rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ hiện nay chưa được tổ chức 
thường xuyên, liên tục, chưa kích thích được sự hứng thú và ý thức tự giác của 
trẻ. Ngoài ra nhiều gia đình còn nuông chiều con quá mức, thường làm thay cho 
con mọi việc dẫn đến việc trẻ thiếu tự tin trong cuộc sống. Vậy làm thế nào để 
truyền thụ kiến thức cho trẻ một cách nhẹ nhàng, thoải mái, hấp dẫn mà lại đạt 
được kết quả và chất lượng cao nhất? Chính vì những lý do trên mà năm học này 
tôi lựa chọn: “Biện pháp rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp 4 – 5 tuổi B3 
trường mầm non Song Mai”
 PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
 1. Thực trạng 
 - Xuất phát từ tình hình thực tế của trường, điều kiện của lớp và khả năng 
của bản thân trong quá trình tổ chức rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, bản thân tôi 
nhận thấy có những ưu điểm và hạn chế sau: 
 1.1. Ưu điểm
 Nhà trường luôn quan tâm, chú trọng đến các hoạt động rèn kỹ năng sống, 
kỹ năng tự phục vụ cho trẻ.
 Được Ban giám hiệu giúp đỡ tạo mọi điều kiện để giáo viên được học tập, 
rèn luyện tham dự các buổi sinh hoạt của tổ chuyên môn của trường và chuyên 
đề do Phòng Giáo dục tổ chức.
 Bản thân tôi có nhiều năm công tác trong nghề luôn năng động, nhiệt tình 
yêu nghề, mến trẻ.
 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân hạn chế
 1.2.1. Giáo viên 3
 - Bản thân tôi chưa xây dựng được môi trường trong và ngoài lớp để tạo sự 
hứng thú cho trẻ trong việc tổ chức rèn kỹ năng tự phục vục, tổ chức các 
hoạt động rèn kỹ năng còn mang nặng tính hình thức, áp đặt trẻ.
 - Bản thân chưa chú trọng việc rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở mọi lúc, 
mọi nơi dẫn đến kỹ năng tự phục vụ của trẻ còn hạn chế.
 * Nguyên nhân: Bản thân tôi chưa vận dụng linh hoạt phương pháp giáo 
dục lấy trẻ làm trung tâm trong việc dạy trẻ.
 1.2.2 Trẻ em
 - Một số trẻ đầu năm mới ra lớp và được bố mẹ, ông bà chiều chuộng nên 
không có kĩ năng tự phục vụ.
 * Nguyên nhân:
 - Một số trẻ chưa học qua độ tuổi 3-4 tuổi và còn nhút nhát trong các hoạt 
động tập thể. Khả năng tiếp thu của trẻ không đồng đều.
 - Một số trẻ còn nhút nhát, chưa mạnh dạn tự tin. Trẻ chưa tích cực tham 
gia vào hoạt động rèn kỹ năng tự phục vụ.
 1.2.3 Phụ huynh
 - Đa số các bậc phụ huynh đều làm nông nghiệp và công nhân không có 
thời gian dạy dỗ con ở nhà. Chưa hiểu nội dung chương trình Chăm sóc giáo dục 
trẻ mầm non nên vẫn xem nhẹ việc rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ.
 * Nguyên nhân 
 - Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến hoạt động rèn kỹ năng tự 
phục vụ cho trẻ, phụ huynh cho rằng con còn nhỏ nên cần được giúp đỡ. Ngoài 
ra phụ huynh chỉ quan tâm đến hoạt động làm quen với toán, hoạt động 
tạo hình, hoạt động âm nhạc....
 2. Biện pháp rèn kỹ năng tự phục cho trẻ lớp 4 – 5 tuổi B3 trường mầm 
non Song Mai.
 2.1. Biện pháp 1: Tạo môi trường rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ.
 2.1.1. Nội dung
 Xây dựng môi trường trong và ngoài lớp cho trẻ thực hiện kỹ năng tự 
phục vụ cụ thể: 4
 - Xây dựng góc kỹ năng
 - Bố trí khu vực để đồ dùng cá nhân hợp lý
 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
 Đối với trẻ lứa tuổi mầm non, dạy trẻ kĩ năng tự phục vụ là vô cùng cần thiết. 
Đây là giai đoạn quan trọng để giúp trẻ có những kĩ năng cơ bản, giúp trẻ chủ động 
sáng tạo, tự tin vững vàng trước mọi khó khăn. Hiểu được tầm quan trọng của việc 
đó tôi đã quan tâm xây dựng môi trường thân thiện, gần gũi với trẻ.
 Để trẻ học tập tốt thì phải xây dựng môi trường học tập tốt nhất vì môi 
trường lớp học là nơi trẻ tiếp xúc hàng ngày. Nên ngay từ đầu năm học tôi và 
đồng nghiệp ở cùng lớp trang trí lớp học chú trọng xây dựng môi trường giáo 
dục lấy trẻ làm trung tâm. Môi trường lớp học có vị trí to lớn trong việc nhận 
thức của trẻ, là nơi để trẻ tiếp xúc hàng ngày để trẻ học tập và vui chơi. Vì hoạt 
động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo. Tôi đã chủ động xây dựng 
góc kỹ năng tự phục vụ phong phú như kỹ năng tết tóc, kỹ năng buộc dây giày, 
kỹ năng cài khuy áo, kéo khóa áo, đóng cúc áo, đan tết 
 Trẻ được vui chơi ở góc theo cách thức “ Học bằng chơi, chơi bằng học” 
Trẻ có nhiều cơ hội thực hành những công việc hằng ngày trẻ đã làm. Trẻ có 
nhiều lựa chọn và thực hiện các hoạt động, các bài tập theo hứng thú của mình. 
Tất cả các trẻ trong lớp khi tham gia vào hoạt động góc không phải cùng làm 
một thứ trong cùng một thời điểm. Trẻ có cơ hội lựa chọn học liệu và hoạt động 
của trẻ chủ động hơn trong khi chơi. Đồng thời trẻ có thể cùng nhau 
hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm. 
 Trẻ tham gia chơi góc kỹ năng sống 5
 Ngoài ra khu vực rửa tay tôi dán một bảng gồm các bước theo quy trình có 
hình ảnh minh hoạ cụ thể, dễ hiểu dán trên tường gần vòi rửa tay để khi nào trẻ 
quên có thể nhìn lên và làm theo đến khi trẻ đạt được 100% theo yêu cầu các 
bước rửa tay đúng cách. Kỹ năng này cũng là kỹ năng đặc biệt cần thiết trong 
giai đoạn dịch bệnh hiện nay, làm ngăn chặn dịch bệnh lây lan, đảm bảo an toàn 
cho sức khỏe của mỗi người.
 Quy trình các bước rửa tay
 Tạo môi trường ngoài lớp học để rèn trẻ kỹ năng tự phục vu: Giá để dép 
(dạy trẻ cởi dép, đi dép, cất dép), khu vực tủ để đồ dùng cá nhân (dạy trẻ cất ba 
lô, dạy trẻ cất áo vào tủ), phòng ăn (dạy trẻ cách cầm thìa, bát, gấp khăn lại, 
chuẩn bị giờ ăn ) 
 ->Khu vực để giá dép: Tôi thiết kế ở phía ngoài hành lang cửa lớp, trên 
mảng tưởng của giá dép tôi dán các bước cởi dép, cất dép đúng quy trình để trẻ 
thực hiện.
 ->Khu vực để tủ đồ dùng cá nhân: Tôi dán ký hiệu riêng của từng trẻ để trẻ 
cất và lấy ba lô dễ dàng hơn.
 Khu vực đồ dùng cá nhân của trẻ. 6
 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp:
 - Qua biện pháp trên giúp trẻ rèn luyện tính độc lập, biết tự phục vụ bản 
thân có thêm kỹ năng và biết ngăn nắp, nề nếp hơn.
 - Qua việc xây dựng môi trường trong và ngoài lớp học như vậy, tôi thấy 
trẻ lớp tôi thực hiện đúng thao tác và có kỹ năng thực hiện rất tốt vì thông qua 
hình ảnh mà giúp nhắc nhở trẻ thực hiện thường xuyên, nhờ đó tạo 
thành thói quen.
 - Bản thân tôi được trau dồi kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm tổ chức hoạt 
động rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, ngày càng nắm vững phương pháp và tự 
tin, sáng tạo trong quá trình giảng dạy.
 2.2. Biện pháp 2: Rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
 2.2.1. Nội dung biện pháp
 - Rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
 + Hoạt động đón, trả trẻ.
 + Hoạt động góc.
 + Hoạt động ngoài trời.
 + Hoạt động vệ sinh, ăn, ngủ.
 + Hoạt động chiều.
 + Hoạt động trải nghiệm, rèn kỹ năng sống.
 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
 * Hoạt động đón, trả trẻ:
 Trong hoạt động đón, trả trẻ tôi vừa giao tiếp với trẻ, với phụ huynh đồng 
thời cũng quan sát những hành động, kỹ năng của trẻ từ đó có những uốn nắn 
kịp thời cho trẻ. 
 Ví dụ: Trong giờ đón trẻ, lớp tôi có trẻ đến lớp cất dép và cất ba lô lên giá 
nhưng không đúng, ba lô để xộc xệch trong tủ, giày dép chiếc trái, chiếc phải 
không ngay ngắn. Đối với trường hợp như vậy tôi đã xử lý như sau: Tôi đã lại 
gần trẻ nhắc nhở: Con để chưa đẹp rồi, con để lại đi. Sau đó tôi hỏi thêm con nói 
cho cô biết các bước cất ba lô, dép đúng quy định nào! Sau khi trẻ nói xong cô 7
 bổ sung và nhắc lại các bước để trẻ nhớ và cho trẻ làm lại. Cô giải thích cho trẻ 
việc trẻ cất không đúng sẽ làm cho lớp học không được đẹp.
 Giờ trả trẻ: Tôi cho trẻ thực hiện các kỹ năng như: Sửa lại quần áo, đầu tóc 
cho gọn gàng, sạch sẽ trong thời gian chờ đợi bố mẹ đến đón. Ngoài ra tôi còn 
rèn trẻ kỹ năng biết cất ghế đúng vị trí khi ra về.
 * Hoạt động góc:
 Vui chơi – nhất là trò chơi phân vai chính là một hoạt động phản ánh thực 
cuộc sống xã hội thu nhỏ. Khi tham gia chơi thì trẻ được đứng ở vị trí chủ thể 
của hành động chơi, trẻ có thể được tự mình quyết định làm lấy những gì mà 
mình thích chứ không phải là những gì người khác ép buộc. Vì vậy, trong khi 
chơi xuất hiện ở trẻ sự tích cực, tự nguyện.
 Hoạt động vui chơi đối với trẻ là hoạt động để rèn luyện các chức năng tâm 
lý, sinh lý. Chơi là để phát triển các mặt thể chất và tinh thấn. Chơi là để học hỏi 
làm người là để phát triển nhân cách một cách toàn diện. Với những ý nghĩ to 
lớn đó, có thể khẳng định rằng: Chơi cũng là cách để rèn luyện và phát huy khả 
năng tự lập. Hơn bất cứ hoạt động nào, trong trò chơi, trẻ được thể hiện khả 
năng tự lập của mình. Trẻ luôn luôn mong muốn mình được tự giải quyết lấy 
mọi tình huống, chúng có xu hướng tự hoạt động mà không cần sự giúp đỡ của 
ai. Cũng chính vì thế mà khi trẻ tham gia hoạt động góc, tôi là người tạo tình 
huống để trẻ tự giải quyết vấn đề, trẻ tự chơi, tự khám phá và tôi chỉ giúp đỡ trẻ 
khi thật sự cần thiết. Khi trẻ chơi xong trẻ tự cất dọn đồ dùng, đồ chơi gọn gàng 
đúng nơi quy định.
 Hoạt động góc là hoạt động mà trẻ mầm non rất thích thú. Ở các góc chơi 
trẻ thể hiện các vai chơi, đóng làm người lớn bắt chước làm những công việc 
của người lớn. Cũng chính tại hoạt động chơi góc trẻ sẽ “bộc lộ” sự sáng tạo 
được những kinh nghiệm của bản thân. 
 Ví dụ: Trong chủ đề “Nghề nghiệp” có nhiều góc chơi, trong mỗi góc lại có 
nhiều nhóm chơi nhỏ. Khi cô giới thiệu các góc chơi, nhiệm vụ của từng vai chơi, 
trẻ bắt đầu tự chọn hoạt động của mình. Có trẻ chọn góc phân vai, có trẻ chọn góc 
xây dựng Được đóng vai bố mẹ, anh, chị bế em, chải tóc cho em, cài cúc áo, đi 8
tất, cho em ăn Từ những hoạt động hàng ngày của người lớn mà trẻ đã vận dụng 
vào xã hội thu nhỏ thông qua hoạt động góc. Ngoài ra khi trẻ tham gia chơi góc 
trẻ có kỹ năng bày biện đồ dùng, sắp sếp đồ dùng ngăn nắp gọn gàng.
 Trẻ sắp xếp đồ chơi ngăn nắp, gọn gàng.
 * Hoạt động ngoài trời:
 Hoạt động ngoài trời là hoạt động trẻ được tự do hòa mình với thiên nhiên, 
với môi trường xung quanh. Thông qua hoạt động ngoài trời, tôi cung cấp cho 
trẻ những kỹ năng giữ vệ sinh chung, không vứt rác bừa bãi, nhặt rác đúng nơi 
quy định, nhặt lá, tưới cây...trong vườn trường.Từ đó tôi đánh giá được kỹ năng 
của trẻ đã đạt được trong thực tế khi được cô hướng dẫn. Trong quá trình chơi 
và hoạt động tự chọn, nhắc nhở trẻ biết bảo quản, giữ gìn đồ chơi, thu dọn, cất 
đồ dùng, đồ chơi vào đúng nơi quy định. Khi vào lớp, yêu cầu trẻ tự cất giày dép 
đúng nơi quy định, tự rửa tay, lau mặt, nghỉ vài phút để chuẩn bị cho hoạt động 
tiếp theo. 
 Ví dụ: Giờ hoạt động ngoài trời.
 + Chủ đề nhánh “Một số nghề phổ biến trong xã hội” (Trò chuyện về bác 
lao công).
 + Trò chơi vận động: Chuyền bóng. 
 + Chơi tự do: Chơi với đồ chơi ngoài trời, phấn, lá cây. 
 Tôi cho trẻ ra sân để tham gia hoạt động, tôi cùng trẻ trò chuyện về công 
việc, dụng cụ lao động của các bác lao công, tôi cho trẻ được trải nghiệm cách 9
cầm chổi để quét rát, lá rụng trên sân trường. Từ đó giúp trẻ có kỹ năng quét dọn 
nhà cửa giúp đỡ bố mẹ và cũng thông qua hoạt động giúp trẻ thêm yêu công việc 
của các cô, chú lao công, thể hiện lòng biết ơn đối với người lao động. Ngoài ra 
sau khi tham gia hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ xếp hàng rửa tay và về lớp cất 
dép hàng ngày trẻ được thực hiện thường xuyên lặp đi lặp lại sẽ trở thành kỹ 
năng thuần thục. 
 Trẻ trải nghiệm làm bác lao công
 * Hoạt động vệ sinh, ăn, ngủ:
 Là một hoạt động không thể thiếu ở trường mầm non. Bên cạnh việc giáo 
dục tri thức, thẩm mỹ, thể chất cho các con tại trường mầm non, việc giáo dục 
các con về các vấn đề vệ sinh, ăn, ngủ cũng là việc hết sức quan trọng. Rèn 
luyện những thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ mẫu giáo đó là 
nhiệm vụ rất cần thiết. Đặc biệt trong giai đoạn dịch bệnh covid 19 hiện nay thì 
yêu cầu về vệ sinh cá nhân được đặt lên hàng đầu, đây là yếu tố căn bản nhằm 
phòng tránh lây lan dịch bệnh. Việc hiểu và nắm vững kiến thức vệ sinh cá 
nhân, vệ sinh môi trường sống sẽ giúp cơ thể trẻ phát triển tốt, chống đỡ được 
các bệnh tật, đồng thời hình thành những thói quen cơ bản để giúp trẻ có nhiều 
nề nếp tốt. Có rất nhiều hoạt động ở trường mà tôi có thể thông qua đó để dạy 
trẻ kỹ năng vệ sinh. Đó là những điều rất đơn giản, thường gặp hàng ngày như 
tự rửa mặt, rửa tay trước khi ăn, kê bàn, lấy bát, thìa 
 ->Tôi hướng dẫn cho trẻ kỹ năng rửa mặt, rửa tay trước khi ăn. Lớp tôi có 2 
giáo viên, chúng tôi phân công một cô quan sát trẻ lau mặt, rửa tay sạch sẽ trước 10
khi ăn, cô còn lại chuẩn bị và hướng dẫn một số trẻ trực nhật bữa ăn. Hoặc có 
hôm tôi phân công một bạn trong lớp quan sát các bạn khác rửa tay, lau mặt và 
phân công một số bạn trực nhật bữa ăn. 
 Trẻ rửa tay trước khi ăn
 Sau khi trẻ ăn xong, tôi cho trẻ tự cất ghế về đúng nơi quy định, lấy khăn 
lau miệng và uống nước, xúc miệng nước muối. Trẻ ăn xong trước, tôi cho trẻ đi 
giúp cô chuẩn bị gối, chăn. Sau khi trẻ ngủ dậy, trẻ tự đi vệ sinh và lau mặt, rửa 
tay sạch sẽ, trước và sau khi ăn phụ. 
 Việc rèn trẻ đi vệ sinh đúng nơi quy định là nội dung cần thực hiện thường 
xuyên, trẻ biết đi vệ sinh đúng nơi, đúng chỗ, biết xả nước sau khi đi vệ sinh
 *Hoạt động chiều:
 Trong các buổi hoạt động chiều thứ ba và thứ năm hàng tuần là hoạt động 
vệ sinh và hoạt động lao động, tôi lên kế hoạch trong chương trình chăm sóc 
giáo dục trẻ hàng tuần các hoạt động như: Soi gương chải tóc, rửa mặt, rửa 
tay...hay khi thực hiện hoạt động lao động như: Gấp chăn, chiếu, gấp quần áo, 
lau bàn ghế, lau giá đồ chơi...
 Tôi cho trẻ xem băng hình giáo dục các kỹ năng tự phục vụ hoặc tôi làm 
thao tác mẫu cho trẻ xem sau đó cho trẻ thực hiện cùng cô. Việc rèn trẻ các kỹ 
năng tự phục vụ trong các hoạt động buổi chiều như vậy, tôi thấy trẻ lớp tôi đã 
có thói quen, nề nếp trong việc tự phục vụ của bản thân, trẻ có ý thức tự lập hơn 11
trong những công việc đơn giản, phù hợp với khả năng của trẻ, từ đó hình thành 
kỹ năng tự phục vụ. 
 Trẻ gấp chăn, soi gương chải tóc.
 * Hoạt động trải nghiệm và rèn kĩ năng sống:
 Hoạt động trải nghiệm là một phương thức học thông qua thực hành, là 
phương thức sử dụng các hoạt động giáo dục trong đó giáo viên là người thiết 
kế, tổ chức, hướng dẫn. Trẻ được tham gia trực tiếp, được chiêm nghiệm và tự 
lực tích lũy kiến thức, kĩ năng, thái độ tạo thành kinh nghiệm.
 Vì vậy, để rèn luyện kĩ năng tự phục vụ cho trẻ tôi đã tổ chức cho trẻ các 
hoạt động trải nghiệm: Vắt nước cam; Sữa chua dầm hoa quả; Rửa cốc, đánh 
răng qua hoạt động trẻ được tiếp xúc với công việc tự phục vụ bản thân, trẻ sẽ 
rất thích thú, tự tin hơn khi học cách tự làm nhũng công việc đó khi ở nhà. Khi 
tổ chức cho trẻ hoạt động tôi làm mẫu, hướng dẫn trẻ cách làm, để trẻ quan sát, 
khi trẻ được tự tay trải nghiệm, trẻ sẽ thấy vô cùng thích thú khi tự mình làm 
việc. Không gì tuyệt vời hơn khi chính trẻ được làm điều mình thích, việc tự 
phục vụ không những tạo cho trẻ niềm vui mà còn tập cho trẻ những kĩ năng cần 
thiết trong cuộc sống.
 Trẻ thực hành đánh răng 12
 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp:
 - Trẻ hứng thú với hoạt động rèn kỹ năng tự phục vụ.
 - Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn khi thực hiện một số kỹ năng đơn giản như: Cất 
ba lô, giày dép... đúng nơi quy định.
 - Giáo viên linh hoạt hơn trong tổ chức các hoạt động rèn kỹ năng tự phục 
vụ cho trẻ, tạo sự hứng thú cho trẻ khi tham gia.
 2.3. Biện pháp 3: Phối hợp với phụ huynh để rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ
 2.3.1. Nội dung biện pháp
 - Kết hợp cùng phụ huynh học sinh rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ thông 
qua hình thức tuyên truyền. Trao đổi với phụ huynh trong giờ đón, trả trẻ hoặc 
tuyên truyền với phụ huynh qua nhóm zalo của lớp.
 2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
 Trước thực trạng đa số phụ huynh chưa quan tâm, chú trọng đến việc dạy và 
rèn luyện những kĩ năng tụ phục vụ bản thân cho trẻ. Tôi thường xuyên đăng hình 
ảnh trẻ đang lao động tự phục vụ cho phụ huynh xem thông qua nhóm zalo của 
lớp kèm theo những lời nhận xét, khen ngợi trẻ đã có nhiều tiến bộ. Đồng thời tôi 
cũng đề nghị phụ huynh dạy trẻ những kĩ năng tự phục vụ khi ở nhà hay chụp lại 
và gửi vào nhóm zalo của lớp để nâng cao hiệu quả của việc tuyên truyền. 
 Hình ảnh tuyên truyền rèn kỹ năng cho trẻ trong nhóm zalo lớp 13
 Trẻ thực hành kỹ năng tại nhà
 Ngoài ra thông qua các buổi họp phụ huynh, các buổi đón, trả trẻ tôi tranh 
thủ trao đổi với phụ huynh về tình hình rèn luyện và sự tiến bộ của trẻ, cùng 
mong muốn phụ huynh tiếp tục phối hợp cùng giáo viên để rèn luyện cho trẻ 
những kĩ năng cơ bản thuần thục hơn. Khi trẻ đến lớp với tâm thế mạnh dạn, tự 
tin hơn và luôn hứng thú tham gia vào các hoạt động và có tính tự lập cao.
 Giáo viên và phụ huynh trao đổi trong giờ đón, trả trẻ.
 2.3.3. Kết quả áp dụng biện pháp: 14
 Các bậc phụ huynh đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc rèn kỹ 
năng tự phục vụ cho trẻ, tạo điều kiện,nhiệt tình kết hợp với giáo viên giúp trẻ 
hứng thú, tự tin hơn trong các hoạt động rèn kỹ năng tự phục vụ.
 PHẦN C: MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP
 * Một số văn bản và hướng dẫn làm cơ sở cho việc lựa chọn biện pháp:
 - Số: 09/KH-MNSM, ngày 15 tháng 9 năm 2021. Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ 
Giáo dục mầm non năm học 2021 – 2022 của trường mầm non Song Mai.
 - Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ Giáo dục mầm non năm học 2021 – 2022 của tổ 
mẫu giáo 4 – 5 tuổi, trường mầm non Song Mai.
 * Báo cáo số liệu trước khi thực hiện biện pháp và kết quả sự tiến bộ của 
trẻ sau khi thực hiện biện pháp.
 Trước khi áp Sau khi áp dụng 
 Số trẻ dụng biện pháp biện pháp
Stt Nội dung nghiên cứu khảo 
 Số trẻ Số trẻ 
 sát Tỷ lệ % Tỷ lệ %
 đạt đạt
 Trẻ hứng thú, mạnh dạn, 
 1 tự tin tham gia vào các 32 23/32 71.9% 30/32 93.8%
 công việc tự phục vụ
 2 Trẻ có tính tự lập cao 32 20/32 62.5% 29/32 90.6%
 Trẻ có kỹ năng thực hiện 
 3 32 24/32 75% 30/32 93.8%
 công việc tự phục vụ 
 PHẦN D: CAM KẾT
 Tôi cam kết biện pháp trên đây của tôi không sao chép vi phạm bản 
quyền, các biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về sự tiến bộ của 
học sinh là trung thực.
 Song Mai, ngày 20 tháng 04 năm 2022
 GIÁO VIÊN
 Nguyễn Thị Khánh Ly 15
 PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG
 1. Đánh giá, nhận xét của tổ/nhóm chuyên môn
 ... 
 . 
 .
 TỔ/NHÓM TRƯỞNG CHUYÊN MÔN
 2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng
 ... 
 . 
 .
 HIỆU TRƯỞNG
 Nguyễn Thị Mai Phương

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_bien_phap_ren_ky_nang_tu_phuc_vu_cho_t.docx