Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng quản lý bán trú trong trường Mầm non
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng quản lý bán trú trong trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng quản lý bán trú trong trường Mầm non
MỤC LỤC Nội dung Trang 1 Lý do chọn đề tài 2 2 Giải quyết vấn đề 3 2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề 3 2.2 Thực trạng của vấn đề 4 2.2.1 Thuận lợi 4 2.2.2 Khó khăn 5 2.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 6 2.3.1 Hợp đồng mua, bán thực phẩm sạch 6 2.3.2 Yêu cầu trong chế biến và bảo quản thực phẩm 8 2.3.3 Sử dụng thành thạo phần mềm NutriAll 9 2.3.4 Thiết lập hồ sơ quản lý chế độ ăn của trẻ 9 2.3.5 Thực hiện công tác kiểm tra chế độ ăn của trẻ 10 2.3.6 Xây dựng quy chế hoạt động trong nhà trường 13 2.3.7 Động viên nhân viên cấp dưỡng tham gia học nâng cao trình 14 độ chuyên môn. 2.4 Hiệu quả của sáng kiến 15 3 Kết luận 17 3.1 Ý nghĩa 17 3.2 Bài học kinh nghiệm 18 3.3 Những ý kiến đề xuất 18 4 Tài liệu tham khảo 20 1 1. Lý do chọn đề tài Trong trường mầm non, chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ sức khỏe cho trẻ là việc hết sức quan trọng mà toàn đảng, toàn dân cần phải quan tâm đến. Riêng đối với bậc học mầm non, việc chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ sức khỏe của trẻ được đặt lên hàng đầu, vì mục tiêu giáo dục mầm non là hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa giúp cho trẻ khỏe mạnh hồn nhiên, vui tươi phát triển cơ thể cân đối hài hòa. Tổ chức quản lý công tác bán trú cho trẻ tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn vừa chăm sóc nuôi dưỡng vừa giáo dục các cháu. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong yêu cầu giáo dục hiện nay. Khi xã hội ngày càng phát triển thì giáo dục mầm non càng phải thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ của mình, đào tạo thế hệ trẻ phát triển về thể chất, phong phú về tinh thần, phát triển cao về trí tuệ, góp phần bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đáp ứng yêu cầu, xu thế phát triển của xã hội. Công tác bán trú giúp cho mọi hoạt động trong nhà trường diễn ra bình thường, có kỷ cương, nề nếp tốt và nâng cao uy tín của đội ngũ cán bộ, giáo viên. Tổ chức quản lý công tác bán trú cho trẻ tại trường mầm non, còn tạo điều kiện cho phụ huynh yên tâm lao động, sản xuất, tăng thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống gia đình và phát triển kinh tế xã hội. Quản lý Trường Mầm non là việc làm khó khăn, phức tạp. Bởi ngành học Mầm non có đặc thù riêng biệt. Đối tượng là trẻ em từ 36 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi (từ 3 đến 6 tuổi). Đây là lứa tuổi non nớt, nhạy cảm, ngây thơ nhất, mọi sinh hoạt của trẻ đều phụ thuộc hoàn toàn vào cô giáo. Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải chăm chút tỷ mỷ, kiên trì, chịu khó. Họ không chỉ dạy trẻ phát triển năng khiếu, nhân cách ban đầu, uốn nắn, vun đắp cho tâm hồn trẻ mà còn phải dỗ dành, nâng niu, bế bồng, chăm chút cho trẻ từng bát cơm, thìa cháo, tập cho trẻ từng bước đi, lời nói, câu hát, lời chào, sửa sang cho trẻ từng tư thế khi nằm 2 ngủ, khi ngồi tô, vẽ, cầm thìa để xúc ăn . Do vậy giáo viên mầm non phải am hiểu sâu sắc về trẻ, có kiến thức nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ, có thái độ vui vẻ, nhẹ nhàng, hết lòng yêu thương lo lắng và tôn trọng trẻ, phải thực sự là người mẹ hiền thứ hai của trẻ. Nhận thấy đây là một công việc chăm lo an toàn, chăm sóc vệ sinh, bữa ăn giấc ngủ cho học sinh. Đây là một công việc hết sức quen thuộc gần gũi hằng ngày nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp lớn đến sự phát triển của trẻ. Tuy nhiên từ những công việc hết sức gần gũi này nếu chúng ta không để ý, không đặt cái tâm của mình vào dù là chi tiết rất nhỏ thì bữa ăn của trẻ không đảm bảo vệ sinh, không đảm bảo chất dinh dưỡng, sự cân đối các chất cần thiết trong bữa ăn ở trường. Trẻ không được an toàn, ngủ không sâu, không đủ giấc liệu có phát triển thể chất bình thường không? kéo theo đó là sự phát triển các khả năng về trí tuệ sẽ ra sao? Ngoài ra không kém phần quan trọng nữa chính là đạo đức nghề nghiệp, các cô cấp dưỡng, cô bảo mẫu có thực hiện nhiệm vụ chuyên môn tốt đến mấy mà không động viên nhắc nhở trẻ ăn hết suất, hết khẩu phần lại cắt xén khẩu phần ăn của trẻ, thì làm sao các cháu được đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng. Để làm được điều này tôi luôn băn khoăn, trăn trở học hỏi kinh nghiệm chị em, bạn bè đồng nghiệp tìm nhiều biện pháp để tổ chức, quản lý tốt công tác bán trú cho trẻ. Do vậy tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng quản lý bán trú trong trường Mầm non” để nghiên cứu. 2. Giải quyết vấn đề 2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề Chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non có một vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo con người. Nhiệm vụ vô cùng quan trọng đặt ra cho chúng ta phải có đội ngũ làm công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục có đủ điều kiện để thực hiện mục tiêu cơ bản trên. Trong đó đội ngũ cán bộ, giáo viên 3 có vai trò then chốt là lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trong trường Mầm non. Trong thời gian gần đây, trên phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trong các nhà hàng, quán ăn và cơ sở giáo dục Mầm non nên đã làm cho phụ huynh hoang mang lo lắng, đồng thời làm mất uy tín của Ngành học Mầm non và cán bộ, giáo viên. Vì vậy việc tổ chức quản lý công tác bán trú cho trẻ trong các Trường Mầm non cần được chú trọng đúng mức. Công tác an toàn vệ sinh dinh dưỡng phải được đặt lên hàng đầu. Không có dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm xảy ra trong nhà trường. Không để hành vi thô bạo xảy ra đối với trẻ. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi cán bộ, giáo viên, nhân viên phải thực hiện nghiêm túc công tác nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ trong thời gian ở trường. 2.2. Thực trạng của vấn đề * Thuận lợi: - Năm học 2019-2020 Trường Mầm non Ngô Quyền có 18 lớp mẫu giáo với tổng số trẻ 645 trẻ. Trẻ ăn bán trú tại trường đạt 100% tại trường. - Nhà trường ngay từ đầu năm học đã thực hiện kiểm kê đồ dùng ăn ngủ của trẻ, chủ động tổ chức họp CMHS để bàn việc bổ sung CSVC đảm bảo cho việc tổ chức công tác bán trú được tốt, đã đầu tư và mua sắm trang thiết bị đồ dùng phục vụ cho tổ chức bếp ăn, đầy đủ đảm bảo đúng tiêu chuẩn (xoong, thìa, bát bằng nhôm và inox), có đủ các bảng biểu quy định của bếp ăn. Có tủ lạnh để lưu mẫu thức ăn. Trang bị nồi cơm hơi, tủ sấy bán thìa, ca cốc và hệ thống bếp ga công ngiệp, có kho để chứa thực phẩm, bổ sung chăn, chiếu, giường ngủ ... - Nhà trường tiếp tục chọn và kí hợp đồng với nhà cung cấp thực phẩm tin cậy, chất lượng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có nhãn mác sản phẩm, có giấy phép kinh doanh và có kiểm định chất lượng thực phẩm, thời gian giao nhận 4 thực phẩm: 7h45’hàng ngày. Xây dựng thực đơn theo tuần chẵn lẻ, tận dụng thực phẩm sẵn có ở địa phương để dảm bảm trẻ có thực đơn ăn đa dạng, hấp dẫn. - Đội ngũ đoàn kết từ Ban giám hiệu, giáo viên đồng lòng, đồng sức. Thực hiện tốt nhiệm vụ năm học. Không chấp nhận bệnh thành tích trong nhà trường, không ngại khó, ngại khổ; giàu lòng thương yêu các cháu. Thực hiện nghiêm túc nội quy bếp ăn. - Cơ sở vật chất nhà trường ngày càng khang trang, công trình vệ sinh nguồn nước sạch đảm bảo cho trẻ sử dụng. Đồ dùng phục vụ bán trú cho trẻ được trang bị đầy đủ. Nhà bếp được xây dựng theo quy trình một chiều. - Có kế toán theo dõi thu, chi tiền ăn của trẻ theo đúng nguyên tắc tài chính hiện hành. Nhà trường đã đầu tư phần mềm Nutriall để tính khẩu phần ăn hợp lý của trẻ. - Nhân viên cấp dưỡng được tập huấn về nghiệp vụ nấu ăn và vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm; được khám sức khỏe định kì hàng năm. - Hội phụ huynh chấp hành đầy đủ nội quy, quy định của nhà trường, hưởng ứng tích cực trong việc tổ chức bán trú cho trẻ, nâng mức ăn cho trẻ để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng. * Khó khăn: - Bữa ăn của trẻ được quản lý thu không quá 20.000 đồng/ ngày và ăn vào 2 bữa chính, phụ nên việc cân đối thực phẩm và thay đổi món ăn đa dạng thực phẩm gặp nhiều khó khăn. - Giá cả thực phẩm không ổn định, một số thực phẩm giá tăng cao gây khó khăn trong việc nâng cao chất lượng quản lý bán trú. - Đội ngũ nhân viên cấp dưỡng còn một số đồng chí chưa có bằng nấu ăn. - Nhà trường có 2 cơ sở cách xa nhau nên việc quản lý gặp nhiều khó khăn. Một số phòng lớp học tại cơ sở 1 sử dụng ăn ngủ chung cùng phòng nên việc chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục cũng khó khăn. 5 - Năm học 2019-2020 cũng là năm đặc biệt có dịch Covit-19 xảy ra nên việc nuôi dưỡng chăm sóc trẻ tại trường bị gián đoạn. - Số trẻ bị suy dinh dưỡng cao với kết quả cân đo, tính biểu đồ tăng trưởng như sau: Chiều cao Cân nặng Tổng Suy Bình Thấp Nặng Bình số trẻ Cao hơn dinh thường còi hơn thường dưỡng 587 1 563 23 23 548 16 % 0.2% 95.9% 3.9% 3.9% 93.4% 2.7% Việc giảm tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng là nhiệm vụ rất nặng nề mà cán bộ, giáo viên trong đó người phụ trách công tác bán trú phải nêu cao vai trò, trách nhiệm và phải tìm tòi các biện pháp khắc phục. 2.3. Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề 2.3.1. Biện pháp 1: Hợp đồng mua, bán thực phẩm sạch * Lựa chọn cơ sở để hợp đồng mua thực phẩm sạch Để làm tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, chúng tôi đã chọn cơ sở có uy tín để tiến hành hợp đồng mua thực phẩm. Cơ sở hợp đồng mua thực phẩm phải đáp ứng các yêu cầu vệ sinh: nhà cửa, nơi giết mổ gia súc, gia cầm, nơi cất đựng thực phẩm phải thoáng mát, sạch sẽ, hợp vệ sinh. Người bán phải có ý thức bảo quản thực phẩm tốt: che đậy, cất giữ không cho ruồi nhặng và bụi bặm bám vào. Hợp đồng với giá gốc và rẻ hơn so với thị trường. * Tổ chức hợp đồng mua - bán thực phẩm - Sau khi đã chọn cơ sở đảm bảo yêu cầu, nhà trường mời chủ cơ sở đó và nhân viên cấp dưỡng cùng Ban giám hiệu nhà trường tổ chức kí hợp đồng. Hợp 6 đồng nêu rõ yêu cầu về chất lượng vệ sinh thực phẩm, giá cả, thời gian giao nhận và điều khoản thi hành. - Chất lượng thực phẩm: đối với thịt lợn, thịt gà để bán cho nhà trường phải khỏe mạnh, không mắc bệnh và phải được kiểm dịch của cơ quan thú y. Sau khi giết mổ xong bảo quản thịt sạch sẽ, không cho ruồi, nhặng và các vi khuẩn bám vào. Nhà trường không nhập thịt gà, thịt lợn bị ốm. - Đối với trứng: Vịt, gà nuôi đẻ trứng bán cho nhà trường, không ăn các chất kích thích. Trứng đem bán cho nhà trường phải tươi (mới đẻ), không nhập trứng đẻ lâu ngày. Nếu có dịch phải báo ngay để ngừng cung cấp. - Đối với gạo: Gạo đem bán cho nhà trường phải sạch và ngon, không ẩm mốc, không để chuột gián và các loại côn trùng khác bám vào. - Đối với rau, củ, quả. Cơ sở trồng rau phải là rau sạch, không được tưới phân tươi, không phun thuốc kích thích. Rau củ đem bán cho nhà trường phải nguyên vẹn, tươi màu, không dập nát, không úa màu. - Số lượng đáp ứng theo nhu cầu của nhà trường. - Giá cả phù hợp với thị trường. - Thời gian giao nhận thực phẩm vào các buổi sáng hàng ngày. - Địa điểm: Tại bếp ăn của nhà trường. - Trách nhiệm của hai bên: + Đối với người bán: Nếu không thực hiện đúng cam kết, để xảy ra ngộ độc thức ăn là nguyên nhân do thực phẩm đó gây ra thì người bán phải chịu hoàn toàn kinh phí thiệt hại. Sau khi đem nhập thực phẩm cho trường, cần ghi đầy đủ các thông tin: số lượng, giá cả thành tiền và kí ngay vào sổ theo dõi hàng ngày. + Đối với người mua: Thực hiện mua thực phẩm tại cơ sở đã hợp đồng, không được tự ý đi mua những nơi không hợp đồng. Thanh toán tiền đầy đủ và kịp thời. Sau khi nhận thực phẩm cho trường cần ghi đầy đủ các thông tin: Số lượng, giá cả, thành tiền và ký ngay vào sổ theo dõi hàng ngày. 7 + Hai bên thực hiện theo quy định. Nếu bên nào thay đổi hợp đồng phải báo cho bên kia biết trước 15 ngày. Nếu bên nào tùy tiện hủy bỏ hợp đồng mà không thông báo cho bên kia biết trước theo quy định thì bên đó phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật. + Hợp đồng được gửi cho mỗi bên một bản làm căn cứ thực hiện và có giá trị pháp lý như nhau. 2.3.2. Biện pháp 2: Yêu cầu trong chế biến và bảo quản thực phẩm Chế biến thực phẩm phải đảm bảo chất lượng ngon phù hợp với trẻ, đảm bảo an toàn. Thức ăn phải được nấu chín kỹ, nấu xong cho trẻ ăn ngay. Thực hiện nghiêm túc quy định về lưu mẫu thức ăn. Hàng ngày, nhà bếp lưu mẫu thức ăn theo quy định 24 giờ. Mẫu thức ăn phải được lấy khi vừa nấu xong, trước khi cho trẻ ăn. Hộp dựng mẫu thức ăn phải sạch sẽ, có nhãn mác, có nắp đậy. Mẫu thức ăn lưu được đựng riêng từng hộp đảm bảo vệ sinh. Cấp dưỡng cân và chia cơm hàng ngày 8 Chế biến thực phẩm phải đảm bảo chất lượng ngon phù hợp với trẻ, đảm bảo an toàn. Thức ăn phải được nấu chín kỹ, nấu xong cho trẻ ăn ngay giúp nhân viên cấp dưỡng thực hiện nề nếp, chất lượng trong món ăn của trẻ. 2.3.3. Biện pháp 3: Sử dụng thành thạo phần mềm dinh dưỡng Nutriall. Phó hiệu trưởng phụ trách công tác bán trú sử dụng thành thạo phần mềm dinh dưỡng NutriAll. Khai thác có hiệu quả các chức năng của phần mềm như: - Phiếu tiếp phẩm - Tính khẩu phần ăn - Sổ dưỡng chất - Sổ hạch toán tiền ăn - Phiếu kiểm thực Từ đó hằng ngày có thể thiết lập dưỡng chất để đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, đảm bảo cân đối và phù hợp với trẻ. Xem báo cáo tuần về dinh dưỡng. In sổ hạch toán tiền ăn để gọi thực phẩm được thuận lợi. 2.3.4. Biện pháp 4: Thiết lập hồ sơ quản lý chế độ ăn của trẻ - Đối với các lớp: Ngoài các loại hồ sơ theo quy định, mỗi lớp có một sổ theo dõi trẻ ăn hàng ngày. Khi đón trẻ giáo viên theo dõi chấm ăn đầy đủ, chính xác. Sau khi báo ăn, ký ngay vào sổ báo ăn của nhà trường và chịu trách nhiệm về số lượng báo ăn trong ngày của trẻ tại lớp đó. - Đối với phó hiệu trưởng phụ trách cần có đầy đủ các loại hồ sơ sau: + Sổ báo ăn + Sổ giao nhận thực phẩm (Gạo, trứng, thịt, rau, củ ) + Phiếu giao nhận thực phẩm + Bảng tính khẩu phần ăn + Sổ hạch toán tiền ăn + Sổ kiểm thực 9 + Sổ theo dõi thực phẩm hàng tuần - Đối với nhà trường: + Sổ quỹ tiền mặt ( dành cho việc theo dõi thu - chi tiền ăn của trẻ). + Phiếu thu, phiếu chi tiền ăn của trẻ hàng ngày - Hồ sơ quản lý chế độ ăn của trẻ được thiết lập từ giáo viên các nhóm lớp đến phó hiệu trưởng phụ trách bán trú và đến nhà trường. Điều đó giúp cho Phó Hiệu trưởng phụ trách bán trú cùng các đồng chí trong Ban giám hiệu, phụ huynh và các cấp quản lý giáo dục có cơ sở kiểm tra chế độ ăn hàng ngày của trẻ một cách chính xác, chặt chẽ, khách quan. - Ngoài ra, nếu bị vi phạm thì cũng dễ dàng quy trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân. - Mặc khác, hàng ngày phó hiệu trưởng viết các loại thực phẩm đã mua vào phiếu giao nhận thực phẩm, kế toán tổng hợp chứng từ chi tiền ăn. Từ đó giúp cho nhà trường kiểm soát được việc mua thực phẩm cho trẻ trong ngày, kịp thời ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực có thể xảy ra. 2.3.5. Biện Pháp 5: Thực hiện công tác kiểm tra chế độ ăn của trẻ - Kiểm tra việc báo ăn của giáo viên các lớp: Bất kỳ thời điểm nào Ban giám hiệu nhà trường hoặc Ban thanh tra Nhân dân cũng có thể kiểm tra được số lượng báo ăn của các lớp. Kiểm tra sau khi đón trẻ, trong khi tổ chức cho trẻ ăn, trong khi trẻ đang nằm ngủ, khi trẻ đang hoạt động chung, hoạt động góc - Có nhiều hình thức kiểm tra: Về tại các lớp kiểm tra số lượng trẻ có mặt rồi đối chiếu số lượng báo ăn của nhà trường; hoặc ghi số lượng trẻ đã báo ăn rồi đến các lớp kiểm tra số lượng trẻ hiện có mặt. Đối chiếu số lượng báo ăn của giáo viên và số lượng trẻ tại các lớp nếu trùng nhau thì giáo viên báo ăn đầy đủ, chính xác; nếu số lượng không trùng thì giáo viên phải trình bày lý do: Có một số trường hợp trẻ đi học nhưng không báo ăn do trong gia đình có tiệc cưới, cúng 10 giỗ, hoặc có người thân đi công tác xa lâu ngày về Ban giám hiệu nhà trường xem xét kết luận chính xác. Kiểm tra chất lượng bữa ăn và thực tế tổ chức ăn cho trẻ. - Kiểm tra đối với nhân viên theo dõi giám sát bếp ăn. - Kiểm tra thực phẩm của nhà cung cấp. Nội dung kiểm tra: + Về số lượng, giá cả, chất lượng thực phẩm. Số lượng: Nhà trường - Ban thanh tra Nhân dân căn cứ vào sổ giao nhận thực phẩm hàng ngày của người theo dõi và người hợp đồng bán thực phẩm để kiểm tra. Thực hiện cân đong theo quy định, đảm bảo chính xác, trung thực. Chất lượng thực phẩm: Đối với thực phẩm đã được hợp đồng, kiểm tra thực tế thực phẩm đã nhận, đối chứng với hồ sơ sổ sách. Phân công nhân viên cấp dưỡng thường xuyên theo dõi kiểm tra phát hiện thực phẩm nếu không đảm bảo an toàn vệ sinh thì trả ngay cho người bán; tuyệt đối không nhận và chế biến cho trẻ 11 Giá cả: Nắm tình hình giá cả thị trường trong từng thời điểm cụ thể cân đối với giá cả trong sổ giao nhận thực phẩm. Nhà trường không ép giá của người bán nhưng cũng không để người bán lợi dụng nâng giá thực phẩm. + Kiểm tra hồ sơ: Phó hiệu trưởng phụ trách bán trú phải xuất trình đầy đủ các loại hồ sơ cho nhà trường kiểm tra. Hồ sơ phải ghi chép đầy đủ các thông tin theo yêu cầu, trong đó chú ý về thời gian, số lượng, đơn giá, thành tiền và chữ ký của người giao, người nhận thực phẩm. Người kiểm tra phải tinh thông về nghiệp vụ, nhanh nhạy, linh hoạt. Kiểm tra việc tính toán, ghi chép của phó hiệu trưởng đối chiếu với tình hình thị trường để có kết luận chính xác. Kiểm tra quá trình sơ chế biến thực phẩm của nhân viên theo quy trình bếp một chiều, phù hợp với đặc điểm trẻ mầm non; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. + Kiểm tra quy trình chế biến, chia ăn: Việc chế biến thực phẩm của trẻ phải thực hiện theo 10 nguyên tắc vàng về chế biến dinh dưỡng cho trẻ. Qua kiểm tra giúp cho nhân viên thận trọng hơn, chú ý vệ sinh sạch sẽ hơn. Chia ăn đảm bảo chính xác, gọn gàng hơn. Giáo viên tổ chức cho trẻ ăn tại lớp. 12 + Kiểm tra việc tổ chức cho trẻ ăn tại các lớp: Giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, dụng cụ phục vụ ăn uống cho trẻ. Tổ chức cho trẻ ăn ngon miệng, tạo tâm lý vui tươi giúp trẻ ăn hết khẩu phần, động viên những cháu ăn chậm, ăn yếu, nhắc nhở trẻ ăn uống gọn gàng. Đồng thời hình thành và rèn luyện một số hành vi văn minh trong ăn uống cho trẻ. Trẻ biết làm một số công việc tự phục vụ như: bê cơm, lấy thìa, kê bàn ghế, sắp xếp đồ dùng vào nơi quy định.. - Nhà trường kết hợp với Hội phụ huynh học sinh tổ chức đi kiểm tra đột xuất và kiểm tra định kỳ việc mua bán giao nhận thực phẩm của nhà bếp. Việc tổ chức hoạt động vệ sinh, giờ ăn, giờ ngủ của các lớp... 2.3.6. Biện pháp 6: Xây dựng quy chế hoạt động trong nhà trường - Đối với Ban giám hiệu: Chúng tôi phân công, chỉ đạo cụ thể: + Đồng chí hiệu trưởng: phụ trách chung. + Đồng chí Phó hiệu trưởng 1: Phụ trách chuyên môn khối 3 tuổi và phụ trách công tác phổ cập, bán trú trong nhà trưởng. + Đồng chí phó hiệu trưởng 2: Phụ trách chuyên môn khối 4 + 5 tuổi và công tác kiểm định chất lượng. - Mỗi buổi sáng nhập thực phẩm có 01 đồng chí hiệu phó, 01 đồng chí kế toán, 01 đồng chí giáo viên và 01 nhân viên nhà bếp. - Đối với nhân viên nhà bếp: Hàng ngày phải nhận thực phẩm đúng số tiền trẻ ăn trong ngày, chế biến đảm bảo vệ sinh, lưu mẫu thức ăn đầy đủ. - Đồng chí phó hiệu trưởng: 8h30 hàng ngày phải xuất trình đầy đủ các loại hồ sơ liên quan như: sổ giao nhận thực phẩm, sổ báo ăn, bảng tính khẩu phần ăn, bảng hạch toán tiền ăn, sổ kiểm thực - Đối với giáo viên trên các nhóm lớp: Thực hiện báo ăn đúng giờ, đầy đủ số lượng. Nếu có lý do mà trẻ không ăn trưa tại trường thì phải thông báo cho 13 nhà bếp biết. Trường hợp trẻ đi học muộn, giáo viên phải báo ăn bổ sung kịp thời. 2.3.7. Biện pháp 7: Động viên nhân viên cấp dưỡng tham gia học nâng cao trình độ chuyên môn - Tiền lương ít ỏi cùng với tư tưởng của các chị cấp dưỡng là đi học mất công, tốn tiền. Tôi động viên, chỉ ra những ưu điểm khi cấp dưỡng tham gia học tập: Nâng cao tay nghề, cơ hội giao lưu học hỏi, có thêm kinh nghiệm chế biến món ăn hằng ngày cho người thân trong gia đình. Khi học xong tất nhiên mọi người sẽ nhìn nhận khác. Năm sau nhà trường hợp đồng cấp dưỡng thì sẽ ưu tiên cho ai có bằng trung cấp nấu ăn, có kinh nghiệm. Các chị không thích làm nhà ở trường nữa thì cũng tự tin xin việc nơi khác ví dụ như quán, nhà hàng phục vụ ăn uống, hay tự mở dịch vụ kinh doanh cho chính mình. Hoặc bất ngờ có công văn của cấp trên đưa về xét tuyển nhân viên cấp dưỡng với yêu cầu là người địa phương, có sức khỏe, có bằng cấp, chứng chỉ nếu các chị không đi học lúc này có phải tiếc không. - Đôi khi tôi lại kể cho các chị ấy nghe chuyện làm báo cáo có mục thống kê trình độ cấp dưỡng. Trường thì nhân viên cấp dưỡng đã học xong và có bằng cấp, chứng chỉ rồi việc báo cáo thuận tiện. Trường thì nhân viên cấp dưỡng đang học không biết báo cáo thế nào vì chỉ báo cáo là có bằng cấp, chứng chỉ hay chưa có. Trường mình thì đang nợ mục này rồi các chị ạ! Em thấy điều này thiết thực với công việc các chị đang làm, các chị phải cố gắng làm sao trường mình không nợ mục này. Mặt khác tôi tham mưu Hiệu trưởng gia hạn cho cấp dưỡng ngày hoàn thành khóa học mang bằng cấp, chứng chỉ nộp về nhà trường. Qua trao đổi, đề nghị với chị em cấp dưỡng kết quả là họ đã lựa chọn nơi phù hợp nhất đăng ký tham gia học lớp ngoài giờ. 14 2.4. Hiệu quả của sáng kiến - Qua một năm nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng quản lý bán trú trong Trường Mầm non”. Tôi nhận thấy đề tài này được nghiên cứu và ứng dụng trong phạm vi Trường Mầm non Ngô Quyền và đã đạt được những kết quả rất khả quan và được đồng nghiệp ứng dụng vào thực tế với những kết quả đã có. Tôi tin rằng đề tài có những triển vọng phát triển tốt trong thời gian tới và sẽ được áp dụng trong các Trường Mầm non trong Thành Phố Bắc Giang và các đơn vị bạn. - Qua một năm áp dụng đề tài: Một số biện pháp nâng cao chất lượng quản lý bán trú trong trường Mầm non” kết quả đem lại như sau: * Đối với nhà trường: - Tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên phục vụ đều có ý thức trách nhiệm cao trong quá trình giữ vệ sinh chung đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm. - Nhà bếp đã được trung tâm y tế dự phòng thành phố kiểm tra và công nhận đạt bếp đủ điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm. Dụng cụ chia ăn, bát, thìa, cốc được kiểm định đạt yêu cầu theo đúng quy định. - Nhân viên nhà bếp được nhà trường hướng dẫn đầy đủ kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm. - Giáo viên áp dụng lồng ghép kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm vào trong công tác giảng dạy đạt hiệu quả cao. Hầu hết trẻ biết giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sạch sẽ thông qua hoạt động trên lớp, mọi lúc mọi nơi. Trong năm học không có giáo viên nào vi phạm về báo ăn. * Đối với trẻ: - Trẻ được nuôi dưỡng tốt, ăn uống đầy đủ, da dẻ hồng hào, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng về cân nặng, chiều cao so với đầu năm học giảm một cách rõ rệt. Cụ thể như sau: 15 Chiều cao Cân nặng Tổng Suy Bình Thấp Nặng Bình số trẻ Cao hơn dinh thường còi hơn thường dưỡng 645 2 636 7 24 613 4 % 0.3% 98.7% 1% 3.7% 94.9% 0.6% So với đầu tăng tăng giảm giảm tăng giảm năm 0,15% 2.8% 2,9% 0,2% 1,5% 2,1 - Điều đáng mừng là trong năm không có trường hợp nào xảy ra ngộ độc thực phẩm, không có dịch bệnh lớn xảy ra, phụ huynh yên tâm, phấn khởi khi đưa con em đến trường và tin tưởng vào nhà trường. - Trẻ hiểu được vệ sinh an toàn thực phẩm rất quan trọng đối với đời sống con người, biết giữ vệ sinh môi trường như: vứt rác đúng nơi quy định, vệ sinh lớp học hàng ngày... - Biết tác dụng của các loại thực phẩm, biết ăn các loại thức ăn khác nhau và ăn gọn gàng, ăn hết xuất. Với trẻ khi được hỏi thì 100% trẻ trả lời là “con thích ăn cơm ở lớp, ở trường nấu ngon”. * Đối với các bậc cha mẹ học sinh: - Tất cả các bậc cha mẹ học sinh đồng tình ủng hộ nhà trường trong công tác quản lý bán trú và công khai tài chính bếp ăn. Phụ huynh thường xuyên đến thăm con em mình trong bữa ăn. Thấy các cháu ăn ngon miệng, hết xuất, các món ăn được thay đổi thường xuyên. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cuối năm giảm rõ rệt. Hầu hết phụ huynh đến trao đổi với tôi và cô giáo là các cháu về nói là con thích ăn cơm ở lớp hơn ăn cơm ở nhà. Là Phó Hiệu trưởng phụ trách bán trú được phụ huynh trao đổi như vậy thì bản thân tôi cảm thấy phấn khởi, yên tâm khi được phụ huynh tin tưởng và gửi con em vào trường. 16 3. Kết luận Năm học 2019-2020 tôi đã áp dụng giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý bán trú trong trường Mầm non Ngô Quyền và kết quả đạt được rất đáng khích lệ, mỗi chúng ta, mỗi trường mầm non trong thành phố, chúng ta hãy chung tay cùng nhau góp phần nhỏ bé của mình trong việc thực hiện tốt công tác bán trú, góp phần tạo ra một thế hệ trẻ khỏe mạnh, thông minh, sáng tạo. Tổ chức, quản lý công tác bán trú cho trẻ giúp nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển tốt về thể chất, tinh thần, tình cảm, trí tuệ; nâng cao vị thế của nhà trường gây được lòng tin trong phụ huynh, nhân dân và lãnh đạo các cấp. Trong tình hình giá cả thị trường biến động lớn như hiện nay tổ chức, quản lý tốt công tác bán trú góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ đồng thời giúp cho phụ huynh yên tâm hơn khi gửi con cả ngày tại trường. Tuy nhiên, tổ chức, quản lý bán trú cho trẻ được tốt đòi hỏi người cán bộ quản lý trong nhà trường nói chung và Phó Hiệu trưởng phụ trách bán trú nói riêng phải linh hoạt sáng tạo, tích cực học hỏi kinh nghiệm của chị em, bạn bè đồng nghiệp và biết vận dụng kiến thức vào thực tế tại đơn vị; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đồng thời biết khơi dậy tiềm năng, lòng nhiệt tình, tâm huyết, đức tính thật thà, trung thực của đội ngũ. Phối hợp chắt chẽ với phụ huynh để đưa đón trẻ, bảo vệ an toàn cho trẻ, nâng mức ăn cho trẻ. 3.1. Ý nghĩa: Tổ chức quản lý tốt công tác bán trú góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, nhằm thực hiện thành công Nghị Quyết của Đảng các cấp và các cuộc vận động lớn của ngành, Ban giám hiệu cũng như toàn thể cán bộ, giáo viên là người đi đầu trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Đánh giá đúng thực chất chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Việc 17 đánh giá trung thực chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ giúp chúng ta nhìn thẳng vào sự thật, có cơ sở khoa học để từ đó tuyên truyền, vận động, phối hợp với phụ huynh nâng cao chất lượng cuộc sống giúp trẻ phát triển cân đối, hài hoà cả thể chất lẫn tinh thần giúp cho trẻ thông minh, nhanh nhẹn, tháo vát hơn. 3.2. Bài học kinh nghiệm: 1. Tổ chức quản lý tốt công tác bán trú cho trẻ trước hết phải quán triệt đầy đủ về yêu cầu nhiệm vụ cho toàn thể cán bộ, giáo viên. Giáo dục cho cán bộ, giáo viên thực hiện nghiêm túc quy chế hoạt động của nhà trường, gạt bỏ tư tưởng chạy đua với thành tích, gian lận, dối trá, lợi dụng. Đồng thời khơi dậy đức tính trung thực, thật thà, chịu thương, chịu khó trong mỗi cán bộ, giáo viên. 2. Thiết lập bộ hồ sơ quản lý chế độ ăn cho trẻ chặt chẽ, có sự thống nhất, phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị. 3. Thực hiện tốt công tác kiểm tra nội bộ trường học, trong đó chú trọng kiểm tra chế độ dinh dưỡng của trẻ. Trong khi kiểm tra, đòi hỏi người cán bộ phải tinh thông về nghiệp vụ, nhanh nhạy nắm bắt tình hình thực tế, linh hoạt xử lý mọi tình huống, có kết luận chính xác. 4. Chú trọng vệ sinh an toàn thực phẩm, từ khâu mua thực phẩm tại các cơ sở hợp đồng đến khâu sơ, chế biến, bảo quản và tổ chức cho trẻ ăn. 5. Cần ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bán trú. 3.3. Những ý kiến đề xuất: Căn cứ vào thực tế nhà trường, căn cứ vào tình hình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ năm học 2019- 2020 tôi có đề xuất như sau: - Phòng GD&ĐT tạo điều kiện cho cán bộ quản lý đi tham quan học hỏi các trường mầm non bạn làm tốt công tác chăm sóc và quản lý bán trú. Năm học tới 2020-2021 đề nghị duyệt tăng tiền ăn cho trẻ để đảm bảo chất lượng bữa ăn. 18 - Với nhà trường: tích cực tham mưu với các ban ngành đoàn thể chính quyền địa phương, nhất là hội cha mẹ học sinh để cùng phối hợp chăm lo cho trẻ được đảm bảo đủ về lượng và chất mà vẫn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Tạo mọi điều kiện cho cán bộ, giáo viên nhất là đội ngũ cấp dưỡng được đi học bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng. đặc biệt là phải đảm bảo tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, từ khâu hợp đồng mua thực phẩm đến khâu tiếp phẩm, sơ chế, chế biến, bảo quản và tổ chức cho trẻ ăn. Những biện pháp tôi đã thực hiện trong sáng kiến kinh nghiệm này hy vọng sẽ được tiếp tục áp dụng có hiệu quả trong việc tổ chức, quản lý công tác bán trú cho trẻ tại Trường Mầm non Ngô Quyền những năm tiếp theo. Tuy nhiên, sáng kiến này cũng không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong Hội đồng Thi đua khen thưởng của ngành góp ý, bổ sung để sáng kiến được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG P. Ngô Quyền, ngày 28 tháng 6 năm 2020 HIỆU TRƯỞNG NGƯỜI VIẾT BÁO CÁO Vũ Thị Liên Phạm Thị Hạnh 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Nguyễn Kim Thanh ( 2001) Giáo trình dinh dưỡng trẻ em- Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. 2 Dinh dưỡng hợp lý ( 2001- 2005) Bộ y tế viện dinh dưỡng- Nhà xuất bản phụ nữ. 3 Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên mầm non chu kỳ II ( 2004- 2007 của Vụ Giáo dục Mầm non). 4 Tạp chí Giáo dục Mầm non, số 1 năm 2012 của Bộ GD&ĐT về phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em. 5 Tài liệu bồi dưỡng cán bộ, giáo viên ( 2017- 2018) Sở GD&ĐT. 20
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_q.doc

