Mô tả sáng kiến - Một số biện pháp giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non nhằm phòng tránh bị xâm hại tình dục

pdf 29 trang Hải Châu 04/11/2025 690
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Mô tả sáng kiến - Một số biện pháp giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non nhằm phòng tránh bị xâm hại tình dục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Mô tả sáng kiến - Một số biện pháp giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non nhằm phòng tránh bị xâm hại tình dục

Mô tả sáng kiến - Một số biện pháp giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non nhằm phòng tránh bị xâm hại tình dục
 BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN 
 THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 
1. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư 
cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non nhằm phòng tránh bị xâm hại tình dục” 
2. Lĩnh vực áo dụng sáng kiến: Phát triển tình cảm - Kĩ năng xã hội 
3. Tác giả: 
 Họ và tên: Trương Thị Phương Thảo 
 Sinh ngày: 24 tháng 01 năm 1989 
 Chức vụ: Giáo viên 
 Đơn vị công tác: Trường mầm non An Hưng 
 Điện thoại: 0793354866 
4. Đơn vị áp dụng sáng kiến: 
 Tên đơn vị: Lớp 5A6 - Trường mầm non An Hưng 
 Địa chỉ: Thôn Đồng Hải - An Hưng - An Dương - Hải Phòng 
 Điện thoại: 02253.771.154 
I. Mô tả giải pháp đã biết: 
 Giáo dục giới tính ở trẻ em luôn nhận được nhiều sự quan tâm từ phía xã hội. 
Đặc biệt là ở độ tuổi mầm non, tức giai đoạn từ 3-5 tuổi, bé đã sẵn sàng về mặt thể chất 
và tâm thần vận động để học hỏi, hòa nhập với thế giới xung quanh. Tuy nhiên, đi kèm 
với việc giúp trẻ phát triển kỹ năng, kiến thức thì người giáo viên mầm non cũng cần 
phải sẵn sàng để giáo dục giới tính, nhận biết vùng riêng tư cho trẻ ngay ở giai đoạn 
này để “vẽ đúng đường cho hươu chạy” và giải tỏa những thắc mắc nhạy cảm, ngây 
ngô của con trẻ về sự khác biệt giới tính giữa mình và bạn. 
 Trong những năm gần đây vấn đề giáo dục giới tính phòng chống xâm hại tình 
dục cho trẻ mầm non đã được một số giáo viên quan tâm nghiên cứu, đưa ra các sáng 
kiến, giải pháp chia sẻ tới đồng nghiệp như: 
 Giải pháp 1: “ Một số biện pháp giúp trẻ 5 - 6 tuổi phòng chống xâm hại tình dục” 
- Tác giả: Đỗ Thị Thanh Huyền - Trường mầm non Hoa Hồng - Huyện Gia Lâm - Hà 
Nội - Năm công bố 2018 – 2019. 
 Giải pháp 2: “Một số biện pháp giúp trẻ tự bảo vệ bản thân phòng chống xâm hại 
tình dục cho trẻ 4-5 tuổi” - Tác giả: Nguyễn Thanh Phương - Trường mầm non Vĩnh 
Hưng - Quận Hoàng Mai - Hà Nội - Năm công bố 2018- 2019. 
 Hai đề tài trên đã đưa ra được các giải pháp thực hiện như sau: 
 - Khảo sát và đánh giá kĩ năng của trẻ; 
 1 
 - Cung cấp cho trẻ một số hiểu biết và kĩ năng cần thiết để trẻ tự bảo vệ; 
 - Lựa chọn một số kiến thức cơ bản cần dạy trẻ phòng tránh xâm hại; 
 - Tạo môi trường hoạt động gần gũi thân thiện với trẻ trong tất cả các phòng học 
- các góc - nhóm chơi trong lớp; 
 - Giúp trẻ biết kiến thức và kĩ năng phòng tránh bị xâm hại tình dục thông qua 
việc tổ chức các hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, các hoạt động trải nghiệm và 
các hoạt động khác trong ngày; 
 - Phối hợp với phụ huynh giáo dục trẻ phòng chống xâm hại. 
 Qua nghiên cứu, tham khảo các giải pháp thực hiện của hai đề tài trên tôi nhận 
thấy được một số ưu điểm, hạn chế sau: 
 * Ưu điểm: 
 - Nêu được thực trạng hiểu biết của trẻ về giới tính cũng như kĩ năng tự bảo vệ 
bản thân. Cung cấp cho trẻ những hiểu biết cơ bản và kĩ năng tự bảo vệ. 
 - Đã đưa được một số nội dung giáo dục trẻ kỹ năng phòng tránh xâm hại tình 
dục, lồng ghép các nội dung giáo dục phòng tránh xâm hại trong một số hoạt động giáo 
dục trẻ. 
 * Hạn chế: 
 Trên đây là hai trong nhiều đề tài sáng kiến các bạn đồng nghiệp đã viết về vấn 
đề giáo dục trẻ phòng chống xâm hại tình dục, bản thân tôi đã áp dụng và thực hiện, 
tuy nhiên còn gặp phải những khó khăn như: 
 - Chưa có giải pháp phát triển nội dung giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng 
tư vào Chương trình giáo dục mầm non. 
 - Chưa đưa ra được một số tình huống, nguy cơ có thể xảy ra việc trẻ bị xâm hại 
tình dục. 
 - Chưa có những giải pháp cụ thể việc lồng ghép, tổ chức các hoạt động giáo dục 
nhằm giúp trẻ nhận biết được giới tính và vùng riêng tư của bản thân để có các kỹ năng 
ứng xử, phòng tránh bị xâm hại. 
 Với những thực trạng khó khăn trên và để đáp ứng yêu cầu phát triển chương 
trình giáo dục phù hợp với bối cảnh địa phương, sự phát triển của xã hội thì cần phải 
có những giải pháp sáng tạo, những bước đột phá mới thực hiện hiệu quả việc giáo dục 
trẻ giới tính và trang bị cho trẻ một số kỹ năng cơ bản để phòng tránh bị xâm hại tình 
dục. Chính vì vậy bản thân tôi mạnh dạn đi tìm hiểu, nghiên cứu các giải pháp giáo dục 
trẻ giới tính và nhận biết vùng riêng tư nhằm giúp trẻ phòng tránh bị xâm hại tình dục. 
 II. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến: 
 2 
 1. Nội dung giải pháp mà tác giả đề xuất: 
 Như chúng ta đã biết trong thời gian gần đây, tình hình tội phạm xâm hại tình dục 
trẻ em có chiều hướng gia tăng, tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng. Nguyên 
nhân là do điều kiện, hoàn cảnh cuộc sống của các bậc phụ huynh ít có thời gian gần 
gũi, bên cạnh con của mình nên trẻ em có thể gặp nguy cơ bị xâm hại tình dục . Hiện 
nay, vẫn còn thực trạng nhiều người cho rằng giáo dục giới tính cho trẻ mầm non là 
quá sớm và ngại nhắc đến chuyện tế nhị, đây cũng chính là một trong những nguyên 
nhân dẫn đến nguy cơ trẻ bị xâm hại vì trẻ không có kiến thức cơ bản về giới tính và 
cách phòng tránh bị xâm hại.. 
 Giáo dục giới tính ở trẻ em luôn là khía cạnh nhận được nhiều sự quan tâm từ phía 
xã hội. Bên cạnh trách nhiệm của nhà trường, gia đình cũng là nền tảng vững chắc để 
giúp trẻ hiểu những vấn đề nhạy cảm về giới tính và tình dục ngay từ khi còn nhỏ.Với 
trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, trẻ còn nhỏ nên chưa ý thức được tầm quan trọng của sự khác 
biệt giới tính và vùng riêng tư là như thế nào, kinh nghiệm sống chưa có nên kỹ năng 
phòng tránh xâm hại tình dục ở trẻ còn hạn chế. Trẻ chưa nhận thức được mối nguy 
hiểm xảy ra xung quanh trẻ nên chưa có cách nhận biết, phòng tránh và xử lý cho phù 
hợp. Chính vì vậy, tôi đã thực hiện giáo dục trẻ giới tính và nhận biết vùng riêng tư để 
giúp trẻ có một số hiểu biết cơ bản về giới tính và vùng riêng tư (vùng nhạy cảm) của 
bản thân, phân biệt được đâu là những hành vi xâm hại tình dục và nhận ra một số nguy 
cơ, tránh những tình huống không an toàn có thể dẫn tới bị xâm hại tình dục. Ngoài ra 
còn hình thành cho trẻ một số kĩ năng phòng vệ, tìm kiếm sự giúp đỡ, chia sẻ với người 
lớn tin cậy khi có nguy cơ bị xâm hại tình dục. Tuyên truyền đến phụ huynh cùng phối 
hợp với giáo viên trong việc giáo dục giới tính và rèn kĩ năng phòng tránh xâm hại tình 
dục cho trẻ. 
 Tên giải pháp mà tác giả đề xuất: “Một số biện pháp giáo dục giới tính và nhận 
biết vùng riêng tư cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non nhằm phòng tránh bị xâm 
hại tình dục”. 
 Nội dung giải pháp cụ thể như sau: 
 * Giải pháp 1: Xây dựng kế hoạch phát triển nội dung giáo dục giới tính và 
nhận biết vùng riêng tư của trẻ vào Chương trình giáo dục mầm non. 
 Chương trình Giáo dục mầm non do Bộ GD&ĐT ban hành là chương trình mang 
tính chất khung với những nội dung cốt lõi, cơ bản, phù hợp với từng độ tuổi. 
Chương trình giáo dục mầm non (cấp quốc gia) đã có một số nội dung liên quan đến 
giáo dục giới tính và bảo đảm an toàn cho trẻ, tuy nhiên để đáp ứng phù hợp với kinh 
 3 
 nghiệm và khả năng của trẻ, điều kiện thực tế tôi đã nghiên cứu, phát triển nội dung 
chương trình, lựa chọn nội dung giáo dục giới tính và phòng chống xâm hại tình dục 
cho trẻ lồng ghép phù hợp vào chương trình giáo dục trẻ 5-6 tuổi như sau: 
 Với nội dung: “Nhận biết và phòng tránh những hành động nguy hiểm, những nơi 
không an toàn, những vật dụng nguy hiểm đến tính mạng” thuộc lĩnh vực phát triển thể 
chất tôi đã nghiên cứu và phát triển thành mục tiêu: “Trẻ nhận biết được các dấu hiệu 
của bạo hành, xâm hại, lạm dụng, các biểu hiện của sự bỏ bê, sao nhãng, không quan 
tâm”. 
 Hay nội dung: “Chức năng các giác quan và các bộ phận khác của cơ thể” thuộc 
lĩnh vực phát triển nhận thức ngoài dạy trẻ nhận biết những giác quan bộ phận như: 
mắt mũi, miệng, phát triển thành 2 mục tiêu là: “Trẻ có khả năng nhận biết được những 
bộ phận nhạy cảm trên cơ thể của bản thân và của người khác” và mục tiêu “Trẻ nhớ 
được “Quy tắc 5 ngón tay” để tự bảo vệ an toàn của bản thân tránh bị xâm hại, lạm 
dụng”. 
 Với Chỉ số 28 - Chuẩn 7 - Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi: “Ứng xử phù hợp 
với giới tính của bản thân” mục tiêu phát triển là: “Trẻ biết ứng xử phù hợp với giới 
tính của bản thân như: bạn trai nhường bạn gái, tự đi vệ sinh ở khu riêng biệt, chú ý 
động tác khi mặc váy ” 
 Cứ như vậy căn cứ vào mục tiêu nội dung Chương trình GDMN cũng như Bộ 
chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi tôi đã phát triển Chương trình giáo dục, lồng ghép tích 
hợp hài hòa nội dung giáo dục giới tính và phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ vào 
chương trình GDMN một cách nhẹ nhàng, phù hợp. (Phụ lục 1: Phát triển chương trình 
). 
 Sau khi xây dựng được kế hoạch lồng ghép nội dung giáo dục giới tính và nhận 
biết vùng riêng tư cho trẻ, để không chồng chéo nhiều nội dung gây khó khăn cho giáo 
viên khi thực hiện thì tôi tiến hành nghiên cứu và lựa chọn mục tiêu, nội dung đưa vào 
các chủ đề trong năm học sao cho phù hợp như: Với chủ đề “Trường mầm non” tôi lựa 
chọn nội dung: “Dạy trẻ biết cách ứng xử phù hợp với giới tính của bản thân” (Biết tự 
đi vệ sinh ở khu riêng biệt, thay quần áo ở những nơi kín đáo, chú ý động tác khi mặc 
váy); Hay chủ đề “Bản thân” tôi lựa chọn một số nội dung: “Dạy trẻ nhận biết được 
những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể bản thân và của người khác”; “Dạy trẻ biết không 
tự ý động chạm vào vùng nhạy cảm của người khác và có kĩ năng tự bảo vệ cơ thể khi 
bị bạo lực, xâm hại”; Chủ đề “Gia đình” tôi lựa chọn nội dung: “Dạy trẻ quy tắc 5 ngón 
tay để tự bảo vệ an toàn của bản thân tránh bị xâm hại, lạm dụng”; “Dạy trẻ nhận biết 
 4 
 được các dấu hiệu của bạo lực, xâm hại, lạm dụng, các biểu hiện của sự bỏ bê, sao 
nhãng, không quan tâm”; Với chủ đề “Giao thông” tôi lựa chọn nội dung: “Dạy trẻ 
cách đánh lạc hướng, tìm kiếm sự giúp đỡ hoặc kể cho người lớn về việc bị bạo lực, 
xâm hại”. 
 Chính nhờ những việc làm trên đã giúp tôi định hướng được các công việc mình 
cần làm từ đầu đến cuối năm học để từ đó tôi xây dựng, lựa chọn những hoạt động giáo 
dục trẻ một cách phù hợp, khoa học, cụ thể, rõ ràng, không chồng chéo lên nhau. (Phụ 
lục 2: Nội dung giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư cho trẻ 5-6 tuổi) 
 * Giải pháp 2: Tổ chức lồng ghép giáo dục trẻ giới tính và nhận biết vùng riêng 
tư vào các hoạt động trong ngày: 
 Giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư cho trẻ bằng cách lồng ghép, tích 
hợp vào các hoạt động trong ngày nhằm tận dụng mọi cơ hội để hình thành và phát 
triển cho trẻ những kiến thức, kỹ năng, thói quen tự có ý thức giữ gìn vùng riêng tư cho 
bản thân mọi lúc, mọi nơi. Việc giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư cho trẻ 
đòi hỏi một quá trình rèn luyện, giáo dục lâu dài, thường xuyên, phải gắn với các việc 
làm, tình huống cụ thể. 
 Giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư thông qua hoạt động học: 
 Dựa vào mục tiêu, nội dung giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư cho trẻ 
mà tôi đã xây dựng và đưa vào các chủ đề ngay từ đầu năm học, tôi đã lựa chọn mục 
tiêu, nội dung mới lạ, phù hợp với khả năng nhận thức và nhu cầu của trẻ để tổ chức 
dưới dạng tiết học nhằm khắc sâu cho trẻ những kiến thức về giới tính, vùng riêng tư 
và trang bị cho trẻ những kĩ năng xử lý kịp thời khi bị xâm hại vùng riêng tư. 
 Với nội dung “Trẻ nhận biết được những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể của bản 
thân và của người khác” tôi tổ chức giờ học phát triển nhận thức: “Vùng đồ bơi của 
bé” qua đó trang bị cho trẻ trẻ những hiểu biết về giới tính, vùng nhạy cảm trên cơ thể 
của mình và người khác. Giáo dục trẻ không cho phép người khác đụng chạm vào các 
vùng riêng tư dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Người duy nhất được chạm vào đó là bố mẹ 
khi tắm rửa cho con và bác sĩ khi khám bệnh cho con với sự có mặt của bố mẹ. (Phụ 
lục 3: Giáo án tham khảo 1). 
 Với nội dung “Dạy trẻ biết không tự ý động chạm vào vùng nhạy cảm của người 
khác và có kĩ năng tự bảo vệ cơ thể khi bị bạo lực, xâm hại” tôi tổ chức hotaj động học 
phát triển tình cảm - kĩ năng xã hội: “Dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân phòng tránh 
bị xâm hại” thông qua hoạt động trẻ sẽ nhận biết được đâu là những “động chạm” an 
toàn và đâu là những “động chạm” không an toàn từ đó có các kĩ năng ứng xử phù hợp 
 5 
 khi bị xâm hại như: không đi thang máy một mình cùng với người lạ, kêu cứu, bỏ chạy 
khi có người lạ tiếp cận, sử dụng quy tắc 5 ngón tay khi tiếp cận với người lạ để phòng 
chống xâm hại tình dục, . (Phụ lục 3 - Giáo án tham khảo 2). 
 Nội dung giáo dục giới tính, nhận biết vùng riêng tư, phòng chống xâm hại tình 
dục không chỉ được tổ chức trên giờ học phát triển tình cảm kỹ năng xã hội hay phát 
triển nhận thức mà tôi còn tận dụng những giờ học khác để lồng ghép giáo dục giới 
tính cho trẻ nhằm củng cố, khắc sâu những kiến thức và kỹ năng ứng xử phù hợp với 
giới tính của trẻ như: Chủ điểm “Gia đình” tôi tổ chức giờ học phát triển ngôn ngữ 
“Chú hàng xóm thân thiện”. Qua câu chuyện giúp trẻ biết được các đụng chạm an toàn 
và đụng chạm không an toàn. Từ đó hình thành một số kĩ năng tự bảo vệ bản thân khỏi 
những đụng chạm không an toàn; Giờ học phát triển tình cảm - kĩ năng xã hội “Ở nhà 
một mình” trẻ nhận thức được những mối nguy hại có thể sảy ra khi ở nhà một mình 
qua đó giáo dục trẻ biết không mở cửa cho người lạ, không đi theo, hay nhận quà của 
người lạ để phòng tránh nguy cơ có thể bị xâm hại, 
 Việc giáo dục giới tính thông qua các hoạt động học trên không chỉ giúp trẻ hứng 
thú, tích cực tham gia hoạt động mà còn là cách giáo dục mang tính khám phá, trải 
nghiệm và thực tế với trẻ nhất. 
 Giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư thông qua hoạt động vui chơi: 
 Như chúng ta đã biết, với trẻ mẫu giáo hoạt động vui chơi giữ vai trò chủ đạo, 
trong khi chơi trẻ tiếp nhận kiến thức một cách tự nhiên, không gò bó, thông qua hoạt 
động chơi trẻ phát triển được các kĩ năng tự ý thức về bản thân, thực hiện các công 
việc, ứng phó với các thay đổi. Tại hoạt động này trẻ tiếp cận theo hướng cùng tham 
gia, lấy trẻ làm trung tâm, tích cực hóa hoạt động của trẻ. Chính vì vậy thông qua các 
giờ chơi tôi đã xây dựng, thiết kế những trò chơi, bài tập phù hợp nhằm giáo dục giới 
tính, nhận biết vùng riêng tư và phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ. 
 Với chủ đề “Gia đình”, trong góc chơi “Nấu ăn” tôi nhập vai chơi là người hàng 
xóm đến chơi nhà. Tôi chủ động rủ trẻ: “Cô có bộ đồ bơi rất đẹp để mặc đi biển đấy. 
Đi ra đây cô mặc thử cho”. Thông qua tình huống trên tôi để trẻ chủ động xử lý tình 
huống, nếu trẻ xử lý chưa tốt tôi có thể gợi mở, sửa sai cho trẻ. Qua hoạt động này, 
giáo dục trẻ không cho người lạ nhìn hay sờ vào vùng riêng tư của của trẻ; Tại góc văn 
học tôi sưu tầm các sách, truyện, tranh ảnh có nội dung giáo dục giới tính và nhận biết 
vùng riêng tư của trẻ. Thông qua tranh, hình ảnh mang tính chất minh họa trẻ được 
xem, quan sát hình ảnh để dễ dàng nhận thức được những hành vi nào gọi là xâm phạm 
vào vùng riêng tư. Với phương pháp này trẻ được thực hành các ứng xử phù hợp với 
 6 
 giới tính của mình cũng như trẻ được thực hành các kĩ năng bảo vệ vùng riêng tư tránh 
xâm hại; Góc học tập tôi thiết kế các trò chơi gạch nối, chọn hành vi đúng sai với hình 
ảnh rõ nét, sinh động giúp trẻ khắc sâu kiến thức về giới tính và vùng riêng tư của mình. 
(Phụ lục 4: Một số trò chơi – Bài tập giáo dục hành vi); Góc nghệ thuật: Ở chủ điểm 
hiện tượng tự nhiên với trò chơi “Tô màu, trang trí trang phục đồ bơi” tôi dạy trẻ cách 
che đi vùng riêng tư trên cơ thể để tránh bị xâm hại; Góc phát triển vận động, với trò 
chơi “Lựa chọn trang phục phù hợp” tôi vừa dạy trẻ biết sự khác biệt về giới tính của 
mình và người khác và lựa chọn các trang phục phù hợp với giới tính, đồng thời giáo 
dục trẻ tự mặc, cởi quần áo ở những nơi kín đáo 
 Giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư thông qua các hoạt động khác: 
 Ngoài giờ học, giờ chơi, tôi còn lựa chọn những nội dung, hoạt động phù hợp để 
tổ chức vào các thời điểm khác trong ngày nhằm giáo dục giới tính, nhận biết vùng 
riêng tư và phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ như: 
 + Giờ đón, trả trẻ: Tôi cho trẻ quan sát tranh ảnh, video và trò chuyện về các dấu 
hiệu của bạo lực, xâm hại, lạm dụng. Hay có thể tổ chức cho trẻ tham gia một số trò 
chơi vui nhộn đã được lồng ghép nội dung giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng 
tư như: Trò chơi “Chạm vào nhau” qua trò chơi giúp trẻ ghi nhớ đâu là nơi trẻ được 
chạm, và không được chạm vào của mình và của bạn (Phụ lục 5: Trò chơi “Chạm vào 
nhau). Hay trò chơi “Thử tài của bé” chơi theo hình thức trả lời câu hỏi, chọn đáp án 
đúng cho các tình huống xảy ra với trẻ. Qua trò chơi giúp trẻ khắc sâu ghi nhớ các kĩ 
năng ứng xử khi gặp tình huống có thể bị xâm hại. (Phụ lục 5: Trò chơi chọn đáp án 
đúng cho các tình huống) 
 + Giờ thể dục sáng: Trong khi xếp hàng hoặc ra sân tập thể dục, tôi dạy trẻ biết 
tiếp xúc nào là tiếp xúc an toàn và tiếp xúc nào là tiếp xúc không an toàn. 
 + Giờ vệ sinh: Rèn cho trẻ đi vệ sinh ở nơi riêng biệt đúng nơi quy định, giáo dục 
trẻ không nhìn hay chạm vào vùng riêng tư của bạn, cởi và thay quần áo ở nơi kín đáo. 
 + Giờ ngủ: Khi tổ chức giờ ngủ cho trẻ, tôi phân biệt khu vực dành cho nam và 
nữ riêng biệt để tránh trường hợp trẻ có những tiếp xúc vào vùng riêng tư của nhau. 
 + Giờ hoạt động chiều: Khi tổ chức hoạt động chiều tôi sẽ dàn dựng một số tình 
huống cụ thể và rất dễ xảy ra đối với trẻ từ đó rèn kĩ năng ứng xử khi bị xâm hại cho 
trẻ bằng cách cho trẻ thảo luận, yêu cầu trẻ suy nghĩ, vận dụng vốn hiểu biết của mình 
đã có để tìm cách giải quyết vấn đề. Thông qua hoạt động đó cũng giúp trẻ có sự nhanh 
nhạy, linh hoạt khi xử lý tình huống và trẻ được thực hành thao tác, kỹ năng giải quyết 
tình huống đó (Trẻ ở nhà một mình có người lạ đến gõ cửa, người hàng xóm dụ dỗ trẻ 
 7 
 đi nơi vắng người qua lại, người quen lợi dụng ôm hôn, sờ vào vùng riêng tư của trẻ, 
...) 
 Ví dụ: Tôi đã đưa tình huống: “Nếu trẻ ở nhà một mình mà có người lạ đến gõ 
cửa con sẽ làm gì?” Qua tình huống này tôi dạy trẻ nhận biết các tình huống có thể sảy 
ra để trẻ suy nghĩ cách giải quyết sau đó cho trẻ thực hành những kỹ năng cơ bản như 
sau: 
 + Không mở cửa cho người lạ mặt khi ở nhà một mình. 
 + Tìm số liên lạc với cha mẹ để thông báo về sự xâm nhập của người lạ. 
 + La to cầu cứu người xung quanh khi thấy dấu hiệu cố tình đột nhập của người 
lạ 
 Ví dụ: Với tình huống người hàng xóm thân thiết có những hành vi bất thường 
đối với mình con sẽ làm gì? Qua tình huống trên tôi dạy trẻ kĩ năng thoát khỏi sự khống 
chế của người khác như: 
 + Khi người hàng xóm dụ dỗ đến chỗ vắng vẻ hãy chạy ngay về nhà hoặc nơi tập 
trung đông người, 
 + Khi người hàng xóm nắm tay dắt đi hãy cố gắng đẩy tay ra và chạy nhanh để 
tìm sự giúp đỡ, 
 + Khi người hàng xóm có những hành vi xâm hại hãy la to kêu cứu và vùng vẫy 
để thoát khỏi sự khống chế, 
 Với hình thức lồng ghép giáo dục trẻ mọi lúc mọi nơi như vậy, tôi tin rằng mỗi 
một đứa trẻ sẽ luôn ghi nhớ trong đầu mình những bài học về giới tính và qua đó trẻ 
biết giữ gìn vùng riêng tư của mình tránh bị xâm hại. 
 * Giải pháp 3: Phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh trong việc giáo dục giới 
tính và nhận biết vùng riêng tư cho trẻ 
 Giáo dục giới tính ở trẻ em luôn nhận được nhiều sự quan tâm từ phía xã hội. Bên 
cạnh trách nhiệm của nhà trường, gia đình cũng là nền tảng vững chắc để giảng giải 
cho con hiểu những vấn đề nhạy cảm về giới tính và nhận biết vùng riêng tư cho trẻ 
ngay từ khi còn nhỏ. Do đó người giáo viên cần phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh 
trong việc giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư cho trẻ để tạo sự thống nhất về 
nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục trẻ, tránh những mâu thuẫn trong cách giáo 
dục của bố mẹ và cô giáo, góp phần hình thành nhận thức và những kỹ năng cơ bản đối 
với trẻ ở lớp cũng như ở nhà. 
 8 
 Để tuyên truyền đến phụ huynh cách giáo dục giới tính và vùng riêng tư cho trẻ 
một cách kịp thời và hiệu quả, trước hết tôi xây dựng những nội dung cần tuyên truyền 
để phụ huynh nắm được: 
 + Thực trạng trẻ bị xâm hại tình dục hiện nay, nguyên nhân dẫn đến trẻ bị xâm 
hại và hậu quả để lại khi trẻ bị xâm hại. 
 + Tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư cho trẻ 
ngay từ lứa tuổi mầm non. 
 + Những nội dung giáo dục giới tính cần dạy trẻ: nhận biết giới tính, vùng riêng 
tư của mình, kỹ năng ứng xử khi bị xâm hại. 
 + Giáo dục giới tính cho trẻ như thế nào? vào thời điểm nào để đạt hiệu quả: Giáo 
dục mọi lúc, mọi nơi, gắn với mọi sinh hoạt hàng ngày, sử dụng các tình huống, bài 
tập, trò chơi... để lồng ghép giáo dục trẻ. 
 Sau đó tìm những hình thức tuyên truyền đơn giản, dễ dàng đến với các bậc phụ 
huynh nhất đó là thông qua buổi họp phụ huynh đầu năm và cuối năm, thông qua bảng 
tuyên truyền của lớp, thông qua trao đổi thông tin hàng ngày với cha mẹ trẻ, qua zalo 
nhóm cho phụ huynh xem tranh ảnh, video quay giờ hoạt động giáo dục giới tính, hoặc 
cho phụ huynh thăm lớp, dự giờ học dạy kỹ năng ứng xử khi bị xâm hại của cô và trẻ. 
 Qua cách làm trên giúp các bậc phụ huynh nhận biết được tầm quan trọng của 
giáo dục giới tính, nhận biết vùng riêng tư cho trẻ trong xã hội hiện nay. Ngoài ra còn 
giúp phụ huynh trang bị cho mình những kiến thức cơ bản để giải đáp tất cả những câu 
hỏi hay thắc mắc của con về vẫn đề giới tính, hay vùng riêng tư một cách rõ ràng, 
nghiêm túc; chủ động phối hợp cùng giáo viên và nhà trường trang bị cho các con 
những kiến thức, kĩ năng cơ bản phòng tránh bị xâm hại, lạm dụng. 
 2. Tính mới, tính sáng tạo: 
 2.1. Tính mới: 
 Xây dựng kế hoạch, phát triển chương trình giáo dục giới tính và nhận biết vùng 
riêng tư, phòng chống xâm hại tình dục đảm bảo phù hợp với kinh nghiệm và khả năng 
của trẻ, điều kiện thực tế của trường, lớp và sự phát triển của xã hội. Đưa cụ thể các 
nội dung giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư vào trong các chủ đề trong năm. 
Trẻ được giáo dục thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi gắn với các tình huống thực tế, qua 
đó trẻ có hiểu biết về giới tính và nhận biết được vùng riêng tư để có những kỹ năng 
ứng xử phù hợp và biết phòng tránh bị xâm hại tình dục. 
 2.2. Tính sáng tạo: 
 9 
 Lồng ghép nội dung giáo dục trẻ giới tính và nhận biết vùng riêng tư vào các hoạt 
động trong ngày của trẻ, giúp hình thành và phát triển kỹ năng tự bảo vệ cho bản thân. 
Đổi mới hình thức, phương pháp tổ chức các hoạt động để giáo dục giới tính, phòng 
chống xâm hại cho trẻ như: Sử dụng tình huống thực tế, sưu tầm/thiết kế video tình 
huống, câu chuyện, trò chơi, bài tập hấp dẫn trẻ, tạo cho trẻ hứng thú, tích cực tham 
gia các hoạt động. 
 3. Khả năng áp dụng, nhân rộng: 
 Sáng kiến “Một số giải pháp giáo dục giới tính và nhận biết vùng riêng tư cho trẻ 
5 - 6 tuổi trong trường mầm non nhằm phòng tránh bị xâm hại tình dục” đã được áp 
dụng tại lớp 5A6, trường mầm non An Hưng và mang lại hiệu quả cao. Các giải pháp 
đưa ra cụ thể, có các phụ lục hướng dẫn kèm theo nên giáo viên (dạy độ tuổi mẫu giáo 
5-6 tuổi) trong toàn trường đều áp dụng được. Sáng kiến có khả năng nhân rộng trong 
các trường mầm non toàn huyện và thành phố. 
 4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp: 
 a. Hiệu quả kinh tế: 
 Khi áp dụng đề tài, giáo viên đã tận dụng mọi điều kiện, cơ sở vật chất, tài liệu 
sẵn có để tổ chức cho trẻ tham gia hoạt động nên không mất nhiều kinh phí. 
 b. Hiệu quả về mặt xã hội: 
 Giải pháp đã thu hút được sự quan tâm của phụ huynh đối với lớp, với trẻ. Thông 
qua các hình thức tuyên truyền, giáo viên giúp phụ huynh biết được tầm quan trọng 
của việc giáo dục giới tính cho trẻ ngay từ độ tuổi mầm non để từ đó phối kết hợp cùng 
cô giáo đưa ra các biện pháp giáo dục trẻ mang tính đồng bộ, thống nhất và hiệu quả. 
 c. Giá trị làm lợi khác: 
 Giải pháp giúp giáo viên nắm được mục tiêu, nội dung giáo dục giới tính cho trẻ 
5 - 6 tuổi để từ đó biết cách xây dựng kế hoạch, lựa chọn, lồng ghép và tổ chức các 
hoạt động giáo dục giới tính cho trẻ một cách linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả. 
 Giải pháp có thể dùng làm tài liệu cho các giáo viên khác tham khảo và học tập. 
Ngoài ra còn có thể dùng làm tài liệu tuyên truyền đến các bậc phụ huynh về nội dung 
cũng như hình thức tổ chức các hoạt động bằng sử dụng câu chuyện, các trò chơi, bài 
tập để giáo dục giới tính cho trẻ. 
 Trên đây là sáng kiến “ Một số biện pháp giáo dục giới tính và nhận biết vùng 
riêng tư cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non nhằm phòng tránh bị xâm hại tình 
dục” tôi đã áp dụng và đạt được hiệu quả cao, góp phần thực hiện tốt chương trình 
 10 
 giáo dục mầm non. Tôi rất mong nhận sự đóng góp ý kiến của Hội đồng xét duyệt và 
các bạn đồng nghiệp để giúp cho tiếp tục tổ chức tốt các hoạt động giáo dục trẻ. 
 Xin trân trọng cảm ơn. 
 ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN An Hưng, ngày 19 tháng 2 năm 2021 
 Tác giả sáng kiến 
 Trương Thị Phương Thảo 
 11 
 PHẦN PHỤ LỤC 
 PHỤ LỤC I 
PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀ NHẬN BIẾT VÙNG 
 RIÊNG TƯ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI 
 Mục tiêu CTGDMN Mục tiêu phát triển 
 STT Nguồn 
 (Quốc gia) chương trình nhà trường 
 I Lĩnh vực thể chất 
 Nhận biết và phòng tránh 
 Nội Trẻ nhận biết được các dấu hiệu của 
 những hành động nguy 
 dung bạo lực, xâm hại, lạm dụng, các biểu 
 1 hiểm, những nơi không an 
 chương hiện của sự bỏ bê, sao nhãng, không 
 toàn, những vật dụng nguy 
 trình quan tâm 
 hiểm đến tính mạng 
 Biết kêu cứu và chạy khỏi nơi nguy 
 hiểm: Khi bị người lạ sờ vào người, 
 sờ vào bộ phận sinh dục, khi bị bắt 
 Biết kêu cứu và chạy khỏi 
 Bộ cóc, dọa nạt 
 2 nơi nguy hiểm (Chỉ số 25- 
 chuẩn 
 Chuẩn 6) Dạy trẻ cách đánh lạc hướng, tìm 
 kiếm sự giúp đỡ hoặc kể cho người 
 lớn về việc bị bạo lực, xâm hại 
 Tự mặc và cởi được áo (Chỉ Bộ Trẻ biết tự mặc và cởi quần áo ở 
 3 
 số 5- Chuẩn 2) chuẩn những nơi kín đáo 
 II Phát triển nhận thức 
 Trẻ có khả năng nhận biết được 
 Nội những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể 
 Chức năng các giác quan 
 dung của bản thân và của người khác 
 4 và các bộ phận khác của cơ 
 chương 
 thể Nhớ được "Quy tắc 5 ngón tay" để 
 trình tự bảo vệ an toàn của bản thân tránh 
 bị xâm hại, lạm dụng 
 Nội Trẻ nhận ra và tôn trọng sự khác biệt 
 Họ tên, ngày sinh, giới dung của mình với người khác, nhận biết 
 tính, đặc điểm bên ngoài, chương được hành động yêu thương và hành 
 5 
 sở thích của bản thân và vị trình động xâm phạm 
 trí của trẻ trong gia đình 
 12 
 III Phát triển tình cảm kỹ năng xã hội 
 Biết ứng xử phù hợp với giới tính 
 Ứng xử phù hợp với giới 
 Bộ của bản thân như bạn trai nhường 
 6 tính của bản thân (Chỉ số 
 chuẩn bạn gái, biết tự đi vệ sinh ở khu riêng 
 28- Chuẩn 7) 
 biệt, chú ý động tác khi mặc váy 
 Trẻ biết không tự ý động chạm vào 
 Mối quan hệ giữa hành vi 
 Bộ vùng nhạy cảm của người khác và 
 7 của trẻ và cảm xúc của 
 chuẩn có kĩ năng tự bảo vệ cơ thể khi bị 
 người khác 
 bạo lực, xâm hại 
 PHỤ LỤC II 
NỘI DUNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀ NHẬN BIẾT VÙNG RIÊNG TƯ CHO TRẺ 
 5 - 6 TUỔI 
 CHỦ ĐỀ THỰC HIỆN 
 STT NỘI DUNG 
 MN BT GĐ NN ĐV TV GT TN QH 
 Dạy trẻ nhận biết được các 
 dấu hiệu của bạo lực, xâm 
 hại, lạm dụng, các biểu hiện 
 1 x 
 của sự bỏ bê, sao nhãng, 
 không quan tâm 
 * 
 Biết kêu cứu và chạy khỏi nơi 
 nguy hiểm: Khi bị người lạ sờ 
 2 vào người, sờ vào bộ phận x 
 sinh dục, khi bị bắt cóc, dọa 
 nạt 
 Trẻ biết tự mặc và cởi quần áo 
 3 x 
 ở những nơi kín đáo 
 Dạy trẻ cách đánh lạc hướng, 
 tìm kiếm sự giúp đỡ hoặc kể 
 4 x 
 cho người lớn về việc bị bạo 
 lực, xâm hại 
 Dạy trẻ nhận biết được 
 những bộ phận nhạy cảm trên 
 5 x 
 cơ thể của bản thân và của 
 người khác 
 13 
 CHỦ ĐỀ THỰC HIỆN 
STT NỘI DUNG 
 MN BT GĐ NN ĐV TV GT TN QH 
 Dạy trẻ: "Quy tắc 5 ngón tay" 
 để tự bảo vệ an toàn của bản 
 6 x 
 thân tránh bị xâm hại, lạm 
 dụng 
 Trẻ nhận ra và tôn trọng sự 
 khác biệt của mình với người 
 7 khác, nhận biết được hành x 
 động yêu thương và hành 
 động xâm phạm 
 Dạy trẻ biết ứng xử phù hợp 
 với giới tính của bản thân 
 (bạn trai nhường bạn gái, biết 
 8 x 
 tự đi vệ sinh ở khu riêng biệt, 
 chú ý động tác khi mặc 
 váy ) 
 Dạy trẻ biết không tự ý động 
 chạm vào vùng nhạy cảm của 
 9 người khác và có kĩ năng tự x 
 bảo vệ cơ thể khi bị bạo lực, 
 xâm hại 
 14 
 PHỤ LỤC III 
 GIÁO ÁN THAM KHẢO 1: 
 GIÁO ÁN PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC 
 Đề tài: “Vùng đồ bơi của bé” 
 Chủ đề: “Bản thân” 
 Độ tuổi: 5 - 6 tuổi 
1. Mục đích yêu cầu 
 - Trẻ nhận biết tên gọi, đặc điểm, sự khác biệt của một số vùng riêng tư trên cơ 
thể như: Miệng, ngực, bộ phận sinh dục, mông giữa bạn trai và bạn gái từ đó nhận ra 
được đâu là đụng chạm an toàn và không an toàn. 
 - Rèn cho trẻ kĩ năng quan sát, so sánh, ghi nhớ có chủ định. Rèn cho trẻ kĩ năng 
tự ứng xử khi bị đụng chạm vào vùng đồ bơi. 
 - Trẻ hứng thú tích cực tham gia hoạt động. Thông qua hoạt động giáo dục trẻ biết 
tôn trọng sự khác biệt giữa mình và người khác, không tự ý nhìn hay chạm vào vùng 
đồ bơi của bạn. 
2. Chuẩn bị 
 - Một chiếc gương soi. 
 - Nhạc bài hát: “Mình cùng soi gương” , “Cái đầu, vai, đầu gối và các ngón chân”. 
 - Bài giảng Powerpoint về vùng đồ bơi của bạn trai - bạn gái, hình ảnh các động 
chạm an toàn, không an toàn, trò chơi “Thử tài của bé”. 
 - Bài tập nối hành vi đúng - hành vi sai với cơ thể của mình và bạn. 
3. Tiến hành 
* HĐ1: Bài hát “Mình soi gương” 
 - Cô cùng trẻ hát và vận động bài hát: “Mình soi gương” 
 - Trò chuyện: 
 + Bạn nhỏ trong bài hát soi gương thấy gì? 
 + Hằng ngày chúng mình soi gương các con thấy gì trong gương? 
 - Cô dẫn dắt vào bài học 
* HĐ2: Nhận biết sự khác biệt giữa bạn trai và bạn gái 
 - Cô cầm gương cho trẻ soi gương, hỏi trẻ : 
 + Con ở trong gương như thế nào? 
 + Hai bạn cùng soi gương con thấy mình khác bạn giống và khác nhau ở điểm 
gì? 
 + Vậy con và bạn giống nhau ở điểm nào? (Cho trẻ liệt kê những đặc điểm giống 
nhau). 
 - Con và bạn khác nhau ở điểm nào? Cho trẻ liệt kê những đặc điểm khác nhau) 
 15 
 => Cô khái quát: Mỗi bạn đều có những điểm giống nhau nhưng cũng có những 
điểm khác nhau. Và sự khác biệt đó giúp mọi người biết được đâu là mình vì vậy con 
phải biết tôn trọng sự khác biệt đó của bạn. 
 - Cô cùng trẻ vận động bài: “Cái đầu, vai, đầu gối và các ngón chân” 
 - Trò chuyện: 
 + Các con vừa nhắc đến những bộ phận nào trên cơ thể của chúng mình? 
 + Ngoài những bộ phận được nhắc đến cơ thể chúng mình còn những bộ phận 
nào? 
 + Các con quan sát cơ thể mình xem bộ phận nào được nhìn thấy và bộ phận nào 
luôn bị che đi? Vì sao? 
 + Những bộ phận bị che đi đó gọi là gì? 
 - Cô cho trẻ xem tranh vùng đồ bơi của bạn trai- bạn gái. 
 + Theo các con vùng đồ bơi là vùng gì trên cơ thể ? 
 + Tại sao khi đi bơi mọi người lại mặc đồ bơi che đi những bộ phận đó ? 
 + Những ai được chạm vào vùng riêng tư của chúng mình? Khi nào? 
 - Cô giới thiệu trò chơi: Xi bô khoai, trẻ lựa chọn chạm hay không vào bộ phận 
 nào trên cơ thể bạn theo yêu cầu của cô. Cô tổ chức cho trẻ chơi 3-4 lần. 
 - Cô hỏi trẻ: 
 + Con vừa chơi trò chơi gì? 
 + Con vừa sờ vào đâu của mình và của bạn? 
 + Tại sao các con lại không chạm vào mông của bạn? 
 - Cô cho trẻ quan sát một số hành vi đúng- sai về đụng chạm an toàn và không an 
toàn : 
 + Theo con bắt tay là đụng chạm an toàn hay không an toàn? Tại sao? 
 + Người lạ chạm vào vùng đồ bơi là đụng chạm gì? Tại sao? 
 + Vậy những đụng chạm như thế nào là an toàn? Và không an toàn? 
 => Cô khái quát lại: Vùng đồ bơi là vùng riêng tư luôn luôn phải bảo vệ và che 
chắn vì đó là vùng mà người khác không thể xâm phạm. Chỉ có những người thân như: 
Bố, mẹ, cô giáo, bác sĩ là những người được nhìn thấy hoặc chạm vào vùng riêng tư đó 
nhưng chỉ khi chúng ta còn nhỏ thôi nhé. Và vùng riêng tư giúp chúng ta phân biệt 
được đâu là bạn trai và đâu là bạn gái nữa đó. 
 - Cô giáo dục trẻ biết tự chăm sóc, tự phục vụ để có một cơ thể khỏe mạnh và 
giữ gìn vùng riêng tư cho mình: tự mặc quần áo, tự đi vệ sinh, 
* HĐ3: Vui chơi cùng bạn 
 - Trò chơi: “Thử tài của bé” : Chia trẻ thành 4 nhóm chọn giơ đáp án đúng sai 
theo các tình huống : 
 + Tình huống 1 : Đâu là vùng đồ bơi không ai có thể chạm vào : 
 ✓ Đáp án 1 : Tay, chân, mắt, tai 
 16 
 ✓ Đáp án 2 : Ngực, miệng, phần giữa 2 đùi và mông 
 + Tình huống 2 : Con sẽ làm gì khi bị người lạ chạm vào vùng đồ bơi 
 ✓ Đáp án 1 : Đứng yên để người lạ động chạm 
 ✓ Đáp án 2 : Hét to, chạy khỏi nơi nguy hiểm 
 + Tình huống 3 : Khi đi vệ sinh thấy bạn Mai đang đi vệ sinh con sẽ làm gì 
 ✓ Đáp án 1 : Chạy sang nhìn và chạm vào vùng kín của bạn 
 ✓ Đáp án 2 : Đi vệ sinh vào đúng bên của bạn trai 
 + Tình huống 4 : Ai là người được đụng chạm vào vùng đồ bơi của bé 
 ✓ Đáp án 1 : Bố mẹ khi tắm 
 ✓ Đáp án 2 : Bác sĩ khi khám bệnh có đồng ý của bố mẹ 
 - Cô nhận xét kết quả của 4 đội chơi 
 - Trò chơi: Nối hành vi đúng - hành vi sai với cơ thể của mình và bạn 
 PHỤ LỤC 4 
 GIÁO ÁN THAM KHẢO 2: 
 GIÁO ÁN PHÁT TRIỂN TC - KNXH 
 Đề tài: Dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân phòng tránh bị xâm hại 
 Chủ đề: Bản thân 
 Độ tuổi: 5-6 tuổi 
1. Mục đích yêu cầu 
 - Trẻ nhận biết giới tính của bản thân, biết được những bộ phận thuộc vùng riêng 
tư trên cơ thể, những vùng đụng chạm an toàn và không an toàn, biết 5 quy tắc ngón 
tay. 
 - Rèn kỹ năng phán đoán, suy luận, quan sát, ghi nhớ có chủ định và khả năng 
ứng phó với những tình huống xấu khi bị xâm hại cho trẻ. 
 - Trẻ hứng thú, tích cực tham gia hoạt động, trẻ biết cách giữ gìn, tự bảo vệ thân 
thể và không xâm hại cơ thể của người khác. 
2. Chuẩn bị: 
 * Đồ dùng của cô. 
 - Giáo án, máy tính, tivi, loa, bài giảng thiết kế trên powerpoint. 
 - Hình ảnh phục vụ bài học 
 - Video về quy tắc 5 ngón tay, video tình huống, video trang phục bạn trai, bạn 
gái 
 - Nhạc bài hát: “ Nào mình cùng lắc lư”. 
 * Đồ dùng của trẻ. 
 - 4 bộ đáp án thẻ số 1-2. 
 17 
 - Trang phục đồ bơi của bạn trai, bạn gái 
3. Tổ chức hoạt động 
 * HĐ1: Cơ thể bé 
 - Cô cùng trẻ hát vận động “Nào mình cùng lắc lư” 1-2 lần: 
 + Cô và các con vừa vận động theo bài hát gì? 
 + Trong bài hát nhắc đến những bộ phận nào trên cơ thể? 
 + Chúng mình còn biết những bộ phận nào khác? 
 + Làm cách nào để chúng mình bảo vệ những bộ phận đó? 
 - Cô dẫn dắt vào nội dung bài học 
 * HĐ2: Dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân phòng chống xâm hại 
 - Cô cho xem đoạn video “ trang phục bạn trai, bạn gái” 
 + Đoạn video nói về ai? 
 + Ban trai và bạn gái mặc trang phục gì khi đi bơi? 
 + Trang phục đồ bơi đã che đi phần nào trên cơ thể? 
 + Những bộ phận mà đồ bơi che đi chúng mình gọi là gì? 
 + Trên cơ thể có những bộ phận nào thuộc vùng riêng tư? 
 => Trên cơ thể mỗi người, có 4 điểm riêng tư đó là miệng, ngực, vùng giữa 2 
đùi và mông. Những vùng riêng tư này không ai được phép chạm vào chúng ta và 
chúng ta cũng không được phép chạm vào người khác 
 - TC: Sờ vào nhau. 
 - Xem video tình huống “Chú hàng xóm” 
 + Trong video có ai? 
 + Chú hàng xóm mua gì cho Mai? 
 + Mai có tin tưởng chú hàng xóm không? Vì sao? 
 + Chú hàng xóm đã rủ bé Mai đến phòng làm gì? 
 + Chú đã có hành động gì với bạn? 
 + Nếu là con trong hoàn cảnh đó con sẽ xử lý như thế nào? 
 - Cho trẻ xem kết thúc của câu chuyện. 
 + Nếu có người cố tình chạm vào người con thì con sẽ làm gì? 
 + Ai là người con sẽ tin tưởng nhất? 
 => Giáo dục trẻ: có những bộ phận riêng tư trên cơ thể không ai được phép chạm 
vào nếu như không có sự đồng ý. Có những đụng chạm an toàn và có những đụng chạm 
không an toàn. 
 - TC: Sóng xô 
 - Cho trẻ xem quy tắc 5 ngón tay. 
 - Cô cho trẻ nhắc lại quy tắc 5 ngón tay 
 + Ai là người có thể chạm vào vùng riêng tư của chúng mình? 
 + Bố mẹ và người thân được động chạm vào chúng ta khi nào? 
 18 
 + Khi chúng mình lớn chúng mình phải tự làm gì? 
 + Ở lớp hay ở nhà chúng mình thay quần áo ở đâu? 
 + Bạn trai và bạn gái đi vệ sinh ở đâu? 
 + Các bạn trai và bạn gái ngủ ở đâu? 
 + Bác sỹ có thể khám cho chúng mình tại vùng kín được không? 
 Tại sao? 
 + Bác sỹ chỉ được khám vùng kín cho các con khi nào? 
 - Cô khái quát và giáo dục trẻ. 
 * HĐ 3: Ai thông minh nhất 
 * TC1: “Ai thông minh”: Chia trẻ làm 4 nhóm về 4 bàn chơi trả lời câu hỏi trắc 
nghiệm, thời gian thảo luận là 5 giây, hết 5 giây các đội giơ đáp án đúng 
 * TC2: “ Thử tài bé yêu”. 
 - Cô tạo tình huống dẫn trẻ ra công viên chơi, có 1 cô cũng đang đi chụp ảnh ngoài 
đó. Cô ấy đang có buổi chụp hình áo tắm ở gần đó muốn rủ các bạn nhỏ thay quần áo 
để chụp. 
 PHỤ LỤC IV 
 MỘT SỐ TRÒ CHƠI - BÀI TẬP GIÁO DỤC HÀNH VI 
1. Trò chơi: Chạm vào nhau 
a. Mục đích của trò chơi 
 - Trẻ biết được bộ phận nào trên cơ thể bạn mà mình có thể chạm vào và bộ phận 
nào trên cơ thể bạn mà mình không thể chạm vào. 
b. Chuẩn bị 
 - Nhạc bài hát: “Vỗ cái tay lên đi” 
c. Tiến hành 
 - Cách chơi: 
 + Trẻ vừa hát theo nhạc vừa chạm vào một số bộ phận trên cơ thể của bạn 
 - Tổ chức trò chơi: 
 + Cô cho trẻ kết đôi bạn thân thiết 
 + Trẻ nghe nhạc bài hát: “Vỗ cái tay lên đi” và thực hiện động tác vỗ tay mô 
phỏng như trong bài hát. Khi hát đến chạm vào bộ phận trên cơ thể bạn trẻ sẽ chạm 
vào bộ phận được gọi là động chạm an toàn và không chạm vào vùng riêng tư của 
bạn 
 19 
 2. Trò chơi: Chọn đáp án đúng cho các tình huống sau: 
 20 

File đính kèm:

  • pdfmo_ta_sang_kien_mot_so_bien_phap_giao_duc_gioi_tinh_va_nhan.pdf